Chủ quan với cao huyết áp trả giá bằng đột quỵ và tàn phế
Điển hình là trường hợp bệnh nhân Nguyễn Đình T. (47 tuổi), có tiền sử tăng huyết áp nhưng không duy trì điều trị thường xuyên do cho rằng bản thân vẫn khỏe mạnh.
Tối 27/12/2025, trong điều kiện thời tiết lạnh, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau đầu dữ dội, nôn, méo miệng, nói ngọng, liệt nửa người phải, sau đó rối loạn ý thức và rơi vào hôn mê. Huyết áp tại thời điểm cấp cứu tăng kịch phát lên hơn 200 mmHg.
| Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cao huyết áp liên quan đến khoảng 10 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu, chủ yếu thông qua các biến chứng tim mạch và đột quỵ. |
Kết quả chụp CT sọ não cho thấy xuất huyết não lớn bán cầu trái, kèm tràn máu vào não thất. Dù đã được phẫu thuật cấp cứu lấy máu tụ và dẫn lưu não thất, đến nay bệnh nhân vẫn hôn mê sâu do tổn thương não quá nặng.
Không phải là trường hợp cá biệt, nhiều bệnh nhân đột quỵ nhập viện trong tình trạng nguy kịch đều có điểm chung là đánh giá thấp mức độ nguy hiểm của cao huyết áp, không tuân thủ điều trị hoặc tự ý bỏ thuốc. Hậu quả là khi biến cố xảy ra, mọi nỗ lực y tế chỉ mang tính cứu vãn, khó có thể đảo ngược tổn thương.
Thống kê cho thấy gánh nặng do cao huyết áp và đột quỵ đang ngày càng gia tăng. Năm 2024, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp nhận khoảng 320.000 ca điều trị nội trú liên quan đến tăng huyết áp. Sang năm 2025, con số này tăng lên 366.000 ca, trong đó khoảng 80% có liên quan đến chảy máu não và đột quỵ.
TS.Lê Chi Viện, Phó Chủ nhiệm Khoa Đột quỵ, Viện Thần kinh, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết, một quan niệm sai lầm phổ biến hiện nay là cao huyết áp chỉ gặp ở người cao tuổi hoặc người có bệnh nền.
Trên thực tế, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em, thanh thiếu niên đến người trưởng thành khỏe mạnh. Trẻ em có thể tăng huyết áp do béo phì, ít vận động hoặc bệnh lý bẩm sinh; người trẻ và trung niên dễ mắc do căng thẳng kéo dài, ăn mặn, lạm dụng rượu bia; còn ở người cao tuổi, quá trình lão hóa mạch máu là yếu tố nguy cơ chính.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cao huyết áp liên quan đến khoảng 10 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu, chủ yếu thông qua các biến chứng tim mạch và đột quỵ.
Đáng lo ngại, khoảng 44% người mắc cao huyết áp không biết mình có bệnh. Các báo cáo về gánh nặng đột quỵ toàn cầu cũng chỉ ra Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ đột quỵ cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Về mặt y học, cao huyết áp là tình trạng áp lực máu trong động mạch tăng cao kéo dài từ 140/90 mmHg trở lên. Phần lớn người bệnh không có triệu chứng rõ rệt, chỉ đến khi huyết áp tăng rất cao mới xuất hiện đau đầu, hoa mắt, đau ngực hoặc tai biến mạch máu não.
Theo các nghiên cứu của Hiệp hội Tim mạch Mỹ và đăng tải trên tạp chí The Lancet, mỗi khi huyết áp tâm thu giảm 10 mmHg, nguy cơ đột quỵ có thể giảm khoảng 27-30%.
Huyết áp cao kéo dài gây tổn thương lớp nội mạc mạch máu, làm mất tính đàn hồi, thúc đẩy xơ vữa động mạch và hình thành cục máu đông gây nhồi máu não. Đồng thời, áp lực máu tăng cao còn có thể làm vỡ các mạch máu nhỏ trong não, dẫn đến xuất huyết não, thể đột quỵ có tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao.
Nguy hiểm hơn, việc tự ý ngưng thuốc hoặc uống thuốc không đều có thể khiến huyết áp tăng vọt đột ngột, đặc biệt khi gặp các yếu tố kích hoạt như thời tiết lạnh, căng thẳng, uống rượu bia hoặc thức khuya. Đây chính là “mồi lửa” dẫn đến nhiều ca đột quỵ xảy ra bất ngờ, khi người bệnh vẫn nghĩ mình hoàn toàn khỏe mạnh.
“Cho dù có khỏe đến mấy, mạch máu não vẫn rất nhỏ và mong manh. Khi phải chịu áp lực huyết áp quá lớn, mạch vẫn có thể vỡ. Chỉ cần duy trì một viên thuốc huyết áp mỗi ngày, nguy cơ đột quỵ có thể giảm tới 80%”, TS.Lê Chi Viện nhấn mạnh.
Thực tế cũng cho thấy, sự chủ quan trong theo dõi sức khỏe có thể dẫn tới hậu quả nặng nề ngay cả ở người trẻ. Bệnh nhân Phòng Văn K. (30 tuổi) từng xuất hiện méo miệng và yếu nhẹ nửa người trái từ năm 2023, nhưng không đi khám vì nghĩ chỉ bị “cảm gió”.
Đến lần nhập viện gần đây, bệnh nhân đột ngột đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn và liệt hoàn toàn nửa người trái. Chụp CT sọ não cho thấy chảy máu não lớn vùng thái dương phải, kích thước 5 x 2,5 x 3,5 cm.
Nguyên nhân được xác định là dị dạng động, tĩnh mạch não, một bất thường thường tồn tại từ trước nhưng chỉ được phát hiện khi đã vỡ. Hiện bệnh nhân vẫn còn di chứng liệt nửa người, khả năng hồi phục hạn chế.
Các chuyên gia nhấn mạnh, cao huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ nhưng cũng là yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa hiệu quả nhất. Việc điều trị đột quỵ khi đã xảy ra không chỉ tốn kém, kéo dài mà còn không thể bảo đảm phục hồi hoàn toàn.
Trong khi đó, tuân thủ điều trị huyết áp, kết hợp lối sống lành mạnh như giảm ăn mặn, tăng cường vận động, kiểm soát cân nặng, hạn chế rượu bia và không hút thuốc, có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ biến cố nguy hiểm này.
Tái khởi động kỹ thuật ghép tủy, mở thêm cơ hội sống cho bệnh nhân ung thư máu
Sau hơn 13 năm gián đoạn, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) đang chuẩn bị tái khởi động kỹ thuật ghép tủy, một trong những phương pháp điều trị chuyên sâu, phức tạp nhất trong lĩnh vực huyết học, mở ra thêm cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân ung thư máu.
Theo PGS-TS.Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc Bệnh viện 19-8, việc tái triển khai kỹ thuật ghép tủy thể hiện quyết tâm của bệnh viện trong việc từng bước làm chủ các kỹ thuật điều trị chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu thực tế ngày càng gia tăng của người bệnh, đặc biệt là nhóm bệnh nhân ung thư máu cần can thiệp điều trị ở mức độ cao.
“Ghép tủy không chỉ là một kỹ thuật điều trị, mà còn là cánh cửa hy vọng đối với nhiều bệnh nhân mắc các bệnh lý huyết học ác tính. Việc tái khởi động kỹ thuật này là bước đi quan trọng trong chiến lược phát triển lâu dài của Bệnh viện 19-8”, PGS-TS.Nguyễn Tiến Quang nhấn mạnh.
Để chuẩn bị cho việc tái khởi động, Bệnh viện 19-8 đã có buổi làm việc với Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, với sự tham gia của PGS-TS.Nguyễn Hà Thanh, Viện trưởng; PGS.TS Vũ Đức Bình, Phó Viện trưởng, cùng các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ghép tế bào gốc và ngân hàng tế bào gốc. Buổi làm việc được đánh giá là dấu mốc quan trọng, mở ra hướng hợp tác chuyên sâu nhằm triển khai hiệu quả kỹ thuật ghép tủy tại Bệnh viện 19-8 trong thời gian tới.
Tại đây, hai đơn vị đã trao đổi toàn diện về định hướng tái triển khai kỹ thuật ghép tủy, một kỹ thuật đòi hỏi yêu cầu rất cao về chuyên môn, cơ sở vật chất và nhân lực. Nội dung trao đổi tập trung vào lộ trình đầu tư hệ thống hạ tầng, chuẩn bị nguồn nhân lực, thuốc chuyên biệt, cũng như phương án phối hợp chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuyên môn lâu dài.
PGS-TS.Vũ Đức Bình cho biết, Bệnh viện 19-8 từng có kinh nghiệm triển khai ghép tủy trong giai đoạn trước. Hiện nay, cùng với hành lang pháp lý thuận lợi hơn từ các thông tư mới và việc ký kết hợp tác chuyên môn với Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, bệnh viện có nhiều điều kiện thuận lợi để tái khởi động kỹ thuật này. Đặc biệt, việc bệnh viện đã chủ động chuẩn bị được bệnh nhân ghép được xem là yếu tố tiên quyết, tạo lợi thế lớn trong quá trình triển khai.
Theo BS.CKI Phạm Thị Việt Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Huyết học - Truyền máu, Bệnh viện 19-8, để thực hiện thành công kỹ thuật ghép tủy, bệnh viện cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện quan trọng.
Trong đó, hệ thống phòng điều trị áp lực dương nhằm kiểm soát nhiễm khuẩn tuyệt đối cho người bệnh ghép là yêu cầu bắt buộc. Bên cạnh đó, nguồn thuốc chuyên biệt phục vụ ghép tủy, nhiều loại phải nhập khẩu và cấp phép đặc biệt cũng cần được chuẩn bị đầy đủ. Việc đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ nhân lực theo yêu cầu kỹ thuật ghép tủy là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công lâu dài của chương trình.
Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương khẳng định sẽ đồng hành toàn diện cùng Bệnh viện 19-8, không chỉ trong chuyển giao kỹ thuật mà còn hỗ trợ đào tạo nhân lực và tư vấn chuyên môn xuyên suốt quá trình triển khai.
Theo kế hoạch, trong thời gian tới, Bệnh viện 19-8 dự kiến sẽ tiến hành ghép tủy tự thân cho một nữ bệnh nhân mắc ung thư máu giai đoạn tiến triển.
Đây được xem là bước đi khởi đầu, đặt nền móng cho việc triển khai thường quy kỹ thuật ghép tủy tại bệnh viện, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận điều trị chuyên sâu cho bệnh nhân ung thư máu, giảm tải cho các cơ sở tuyến trên và mang lại thêm nhiều cơ hội sống cho người bệnh.
Nội soi siêu âm - Chìa khóa mở cánh cửa phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa
Trong bối cảnh các bệnh lý đường tiêu hóa và tụy mật ngày càng gia tăng, thực tế đáng lo ngại là phần lớn người bệnh chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với các ung thư có tiên lượng xấu như ung thư tụy, dạ dày và đại trực tràng.
Thông tin này được các chuyên gia nhấn mạnh tại hội thảo khoa học “Nội soi siêu âm (EUS) cơ bản: Hướng dẫn thực hành” vừa diễn ra tại Bệnh viện Bạch Mai. Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo bác sỹ chuyên ngành tiêu hóa trên toàn quốc, nằm trong định hướng phát triển y học hiện đại theo hướng phát hiện sớm, can thiệp tối thiểu, điều trị chính xác.
PGS-TS.Nguyễn Công Long, Giám đốc Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, trong bối cảnh ung thư tiêu hóa có xu hướng gia tăng, nội soi siêu âm được xem là “chìa khóa” giúp phát hiện sớm tổn thương và đánh giá chính xác mức độ xâm lấn của khối u. Đây là yếu tố quyết định để lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp, từ can thiệp nội soi đến phẫu thuật.
“Với ung thư đại trực tràng, nếu được phát hiện sớm, khả năng điều trị khỏi là rất cao. Riêng ung thư tụy, một trong những ung thư có tỷ lệ tử vong hàng đầu chỉ có thêm cơ hội sống khi được chẩn đoán ở giai đoạn sớm”, PGS.Long nhấn mạnh.
Nội soi siêu âm là kỹ thuật hiện đại kết hợp giữa nội soi và siêu âm, sử dụng đầu dò siêu âm tần số cao gắn trên ống nội soi, cho phép quan sát chi tiết cấu trúc từng lớp của thành ống tiêu hóa cũng như các cơ quan lân cận. Nhờ đó, bác sỹ có thể phát hiện những tổn thương rất nhỏ mà các phương tiện chẩn đoán thông thường khó nhận biết.
Trong thực hành lâm sàng, EUS mang lại nhiều lợi ích vượt trội: phát hiện sớm ung thư, đánh giá chính xác độ xâm lấn của khối u; chẩn đoán và theo dõi hiệu quả các bệnh lý tụy, đường mật, đặc biệt là ung thư tụy và các nang tụy. Đồng thời, kỹ thuật này cho phép thực hiện nhiều can thiệp ít xâm lấn như chọc hút kim nhỏ lấy bệnh phẩm (EUS-FNA/FNB), dẫn lưu nang giả tụy, nối ống mật chủ với ruột.
Ưu thế nổi bật của EUS là khả năng phân biệt rõ từng lớp cấu trúc của ống tiêu hóa, từ đó giúp bác sỹ lựa chọn phương án điều trị tối ưu như cắt niêm mạc, cắt dưới niêm mạc hay chỉ định phẫu thuật khi cần thiết. Việc lấy mô, tế bào dưới hướng dẫn siêu âm cũng giúp xác định chính xác bản chất tổn thương, tránh bỏ sót hoặc điều trị không cần thiết.
Không chỉ có giá trị chẩn đoán, nhiều can thiệp qua EUS còn giúp giảm đau, hạn chế phẫu thuật xâm lấn, rút ngắn thời gian nằm viện và sử dụng hiệu quả nguồn lực y tế so với phương pháp điều trị truyền thống.
Mặc dù là kỹ thuật cao, đòi hỏi hệ thống trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên môn sâu, song hiện nay tại Bệnh viện Bạch Mai, chi phí thực hiện đã được hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện để người bệnh tiếp cận các kỹ thuật tiên tiến.
PGS-TS.Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai khẳng định, trong xu hướng y học hiện đại đang chuyển mạnh từ điều trị thụ động sang y học chính xác, việc phát hiện sớm và can thiệp tối thiểu giữ vai trò then chốt.
“Làm chủ kỹ thuật nội soi siêu âm không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị, mà còn góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế dài hạn cho người bệnh và xã hội”, PGS.Đào Xuân Cơ nhấn mạnh, đồng thời khẳng định Bệnh viện Bạch Mai tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong phát triển các kỹ thuật chuyên sâu, trong đó chuyên ngành tiêu hóa là một trụ cột chiến lược.
Xây dựng lĩnh vực phẫu thuật cấp cứu thần kinh phát triển bền vững
Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (Bộ Y tế) vừa phối hợp với Hội Phẫu thuật thần kinh Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Phẫu thuật cấp cứu thần kinh cột sống khu vực phía Bắc”. Hội thảo thu hút sự tham dự của đông đảo y, bác sỹ, chuyên gia và nhà khoa học đầu ngành đến từ nhiều cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn khu vực phía Bắc.
Hội thảo được tổ chức nhằm cập nhật những tiến bộ khoa học nổi bật trong lĩnh vực phẫu thuật cấp cứu thần kinh, cột sống, chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng thực tiễn, đồng thời thảo luận các chiến lược can thiệp tối ưu, phù hợp với điều kiện hệ thống y tế Việt Nam hiện nay.
Phát biểu tại Hội thảo, TS.Phạm Ngọc Thạch, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương nhấn mạnh, y học là hành trình không có điểm dừng. Trong đó, phẫu thuật thần kinh từ lâu được ví như “đỉnh cao của khoa ngoại” đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối, nền tảng tri thức sâu rộng và bản lĩnh vững vàng của người thầy thuốc khi đối diện ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.
Theo TS.Phạm Ngọc Thạch, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ y học trên thế giới, việc liên tục cập nhật kiến thức, đổi mới tư duy và làm chủ các kỹ thuật tiên tiến không chỉ là yêu cầu mang tính chuyên môn, mà còn là mệnh lệnh từ trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, nhằm mang lại kết quả điều trị tốt nhất cho người bệnh.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, Hội thảo “Phẫu thuật cấp cứu thần kinh cột sống khu vực phía Bắc” được xem là diễn đàn khoa học chuyên sâu, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến lược phát triển các kỹ thuật mũi nhọn của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương nói riêng và các cơ sở khám, chữa bệnh nói chung, trong đó có lĩnh vực phẫu thuật cấp cứu thần kinh.
Đây cũng là cơ hội quý báu để đội ngũ y, bác sỹ của bệnh viện và các đơn vị bạn được tiếp cận những tinh hoa y học hiện đại, học hỏi kinh nghiệm lâm sàng thực tiễn và tiếp nhận các kỹ thuật đột phá từ các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực phẫu thuật thần kinh.
Chia sẻ tại Hội thảo, PGS-TS.Đồng Văn Hệ, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật thần kinh Việt Nam cho biết, cấp cứu thần kinh là một trong những lĩnh vực khó khăn và áp lực nhất của y học hiện đại, nhưng đồng thời cũng là lĩnh vực có vai trò quyết định đến sinh mạng và chất lượng sống lâu dài của người bệnh.
PGS.TS Đồng Văn Hệ nhấn mạnh thông điệp cốt lõi, cấp cứu thần kinh không bắt đầu trong phòng mổ, mà bắt đầu từ hệ thống quản lý người bệnh.
Một ca cấp cứu thần kinh thành công đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, liên hoàn từ khâu nhận diện sớm và phân loại đúng ngay tại khoa cấp cứu; chẩn đoán nhanh và chính xác với sự hỗ trợ của chẩn đoán hình ảnh; hồi sức thần kinh chuẩn mực tại đơn vị hồi sức tích cực; can thiệp ngoại khoa đúng thời điểm, không quá sớm, không quá muộn; cho tới theo dõi và phục hồi chức năng sớm ngay sau giai đoạn cấp. Chỉ cần một mắt xích yếu, toàn bộ chuỗi điều trị có thể thất bại.
Đối với các bệnh viện đa khoa mới phát triển chuyên ngành phẫu thuật thần kinh, PGS-TS.Đồng Văn Hệ cho rằng cần tập trung thực hiện ba chiến lược then chốt: xây dựng mô hình đội cấp cứu thần kinh (Neuro-emergency team); chuẩn hóa quy trình chuyên môn, tránh cá nhân hóa theo thói quen; và đào tạo liên tục, học hỏi từ chính các ca bệnh thực tế.
Trong thời gian tới, Hội Phẫu thuật thần kinh Việt Nam cam kết đồng hành cùng các bệnh viện trong công tác đào tạo, tư vấn xây dựng mô hình tổ chức, kết nối chuyên gia và hỗ trợ chuyên môn, nhằm từng bước giúp các cơ sở y tế tiếp cận, làm chủ các kỹ thuật tiên tiến của thế giới trong lĩnh vực phẫu thuật cấp cứu thần kinh - cột sống nói riêng và phẫu thuật thần kinh nói chung.
Tại hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau trao đổi, thảo luận và cập nhật nhiều nội dung chuyên môn quan trọng như: phẫu thuật xâm lấn tối thiểu cột sống thắt lưng; điều trị tăng áp lực nội sọ do chấn thương; chấn thương mạch máu não; can thiệp dẫn lưu não thất ngoài trong điều trị viêm màng não; giả phình động mạch cảnh trong sau chấn thương sọ não; các biến chứng của dẫn lưu não thất, ổ bụng; cũng như chiến lược quản lý chấn thương sọ não nặng.
Những trao đổi chuyên sâu tại hội thảo được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng điều trị cấp cứu thần kinh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và an toàn cho lĩnh vực phẫu thuật thần kinh tại Việt Nam.