Phẫu thuật robot mở thêm cơ hội sống cho bệnh nhân ung thư thực quản phức tạp sau hóa xạ trị
Với một bệnh nhân 66 tuổi mắc ung thư thực quản giai đoạn tiến triển, từng hóa xạ trị và có nhiều yếu tố nguy cơ, các bác sỹ Bệnh viện K đã thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi robot cắt thực quản và tạo hình phức tạp, mở ra cơ hội điều trị triệt căn cho người bệnh.
| Các bác sỹ thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân bằng robot tại Bệnh viện K. |
Mới đây, các bác sỹ Khoa Ngoại Tiêu hóa 2, Bệnh viện K đã thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi bằng robot cắt thực quản và tạo hình cho bệnh nhân Nguyễn Hải B. (66 tuổi, trú tại Nghệ An). Đây là ca bệnh phức tạp với nhiều thách thức lâm sàng do tổ chức xung quanh thực quản bị xơ hóa nặng sau hóa xạ trị, đòi hỏi độ chính xác rất cao trong quá trình phẫu thuật.
Người bệnh nhập viện trong tình trạng nuốt nghẹn kéo dài do khối u thực quản. Qua khai thác bệnh sử, các bác sỹ ghi nhận bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá và uống rượu nhiều năm, vốn là những yếu tố nguy cơ hàng đầu của ung thư thực quản cũng như nhiều bệnh lý đường tiêu hóa và hô hấp.
Theo TS.Đoàn Trọng Tú, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 2, kết quả nội soi phát hiện khối u sùi loét thâm nhiễm chiếm tới một nửa chu vi thực quản, nằm ở đoạn giữa ngực, cách cung răng trên 30-34 cm.
Đây là vị trí đặc biệt phức tạp do nằm gần khí phế quản và các mạch máu lớn. Giải phẫu bệnh xác định người bệnh mắc carcinoma vảy sừng hóa xâm nhập. Hình ảnh chụp CT và PET/CT ghi nhận tình trạng dày thành thực quản đoạn 1/3 giữa, dưới, khối u tiếp xúc trực tiếp với động mạch chủ ngực và đã có hạch trung thất.
Các bác sỹ chẩn đoán người bệnh mắc ung thư thực quản giai đoạn tiến triển cục bộ. Khối u đã xâm lấn qua lớp cơ thành thực quản và di căn tới nhiều hạch lân cận nhưng chưa xuất hiện di căn xa. Trong bối cảnh này, điều trị đa mô thức được xem là lựa chọn tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và tăng khả năng phẫu thuật triệt căn.
Người bệnh được chỉ định hóa xạ trị đồng thời nhằm thu nhỏ khối u trước phẫu thuật. Sau khi hoàn thành phác đồ, bệnh nhân đạt đáp ứng một phần và đủ điều kiện để thực hiện phẫu thuật cắt thực quản tạo hình.
Tuy nhiên, hành trình điều trị không hề đơn giản. Theo TS.Đoàn Trọng Tú, hóa xạ trị trước đó đã khiến các tổ chức quanh thực quản, đặc biệt vùng tiếp giáp động mạch chủ ngực và hạch trung thất, bị xơ hóa và dính chặt, làm tăng nguy cơ chảy máu trong quá trình bóc tách. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể gây tổn thương động mạch chủ hoặc ống ngực, đe dọa tính mạng người bệnh.
Một thách thức khác là việc nạo vét hạch sau xạ trị có nguy cơ làm tổn thương dây thần kinh quặt ngược thanh quản. Biến chứng này có thể dẫn đến khàn tiếng, liệt dây thanh và làm tăng nguy cơ sặc, viêm phổi sau mổ. Bên cạnh đó, tiền sử hút thuốc lá và uống rượu kéo dài còn khiến người bệnh đối mặt với nguy cơ biến chứng tim mạch và hô hấp trong giai đoạn hậu phẫu.
Trước những thách thức đó, ê-kíp điều trị quyết định ứng dụng hệ thống phẫu thuật Robot Da Vinci Xi thế hệ mới. Công nghệ robot với hệ thống camera 3D độ phân giải cao và các cánh tay phẫu thuật linh hoạt đã hỗ trợ phẫu thuật viên tiếp cận chính xác các vùng giải phẫu phức tạp, nạo vét hạch triệt để và hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương các cấu trúc quan trọng.
Đặc biệt, sự ổn định và độ chính xác của hệ thống robot giúp quá trình bóc tách khối u khỏi động mạch chủ ngực và các cấu trúc lân cận diễn ra an toàn hơn, giảm thiểu nguy cơ rách mạch máu lớn. Đây là ưu thế nổi bật của phẫu thuật robot trong điều trị các ca ung thư phức tạp sau hóa xạ trị.
Với người bệnh lớn tuổi có tiền sử hút thuốc và uống rượu lâu năm, phẫu thuật robot còn mang lại nhiều lợi ích như giảm xâm lấn, giảm đau sau mổ, hạn chế mất máu, giúp người bệnh sớm tập thở, ho khạc và rút nội khí quản, qua đó giảm nguy cơ viêm phổi và suy hô hấp hậu phẫu. Đồng thời, kỹ thuật này cũng góp phần rút ngắn thời gian hồi sức và thời gian nằm viện so với phẫu thuật mở truyền thống.
Ca phẫu thuật nội soi robot cắt thực quản và tạo hình đã diễn ra thành công, bảo đảm tính triệt căn trong điều trị ung thư và tối đa hóa sự an toàn cho người bệnh. Thành công này tiếp tục khẳng định năng lực làm chủ các kỹ thuật ngoại khoa chuyên sâu và ứng dụng công nghệ cao trong điều trị ung thư của Bệnh viện K.
Các chuyên gia khuyến cáo, ung thư thực quản giai đoạn sớm thường không có triệu chứng đặc hiệu. Nhiều người chỉ đi khám khi xuất hiện nuốt nghẹn, đau ngực hoặc ăn uống khó khăn, khiến bệnh đã bước sang giai đoạn muộn, làm giảm hiệu quả điều trị và tiên lượng sống.
Vì vậy, từ bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, duy trì lối sống lành mạnh và tầm soát sớm ở nhóm nguy cơ cao là chìa khóa giúp phát hiện sớm và nâng cao cơ hội điều trị thành công căn bệnh này.
Sốt cao sau khi trở về từ châu Phi, nhiều lao động mắc sốt rét ác tính
Thời gian gần đây, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương liên tục tiếp nhận nhiều trường hợp người lao động trở về từ các quốc gia châu Phi trong tình trạng sốt cao, rét run kéo dài. Qua thăm khám và xét nghiệm, các bệnh nhân đều được xác định mắc sốt rét do ký sinh trùng Plasmodium falciparum, tác nhân gây sốt rét ác tính phổ biến nhất tại châu Phi.
Bệnh nhân đầu tiên là anh H.V.T. (36 tuổi, quê Thanh Hóa), từng làm việc tại Congo. Trong thời gian lao động tại đây, đặc biệt vào mùa mưa, anh liên tục mắc sốt rét với tần suất từ một đến ba lần mỗi tháng. Mỗi lần xuất hiện triệu chứng, người bệnh chỉ được truyền dịch để cắt cơn sốt tạm thời rồi tiếp tục làm việc.
Lo ngại sức khỏe suy giảm, anh quyết định trở về Việt Nam điều trị. Tuy nhiên, khoảng hai tuần sau khi về nước, các triệu chứng quen thuộc lại tái diễn với biểu hiện sốt cao gần 40 độ C, rét run, đau đầu, buồn nôn, chóng mặt và mệt mỏi kéo dài. Nhận thấy dấu hiệu giống những đợt sốt rét trước đây, gia đình đã đưa anh đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cấp cứu.
Trường hợp thứ hai là anh M.T.H. (45 tuổi, quê Tuyên Quang), từng làm việc tại Angola. Trong thời gian ở nước ngoài, anh cũng mắc sốt rét nhưng chưa được điều trị triệt để. Sau khi trở về Việt Nam khoảng hai tháng, người bệnh tái sốt và tự sử dụng số thuốc mang từ Angola về cho đến khi triệu chứng thuyên giảm.
Tuy nhiên, một tuần trước khi nhập viện, anh đột ngột sốt cao tới 40,2 độ C, rét run dữ dội, dù đắp nhiều chăn vẫn không giảm cảm giác lạnh. Các cơn sốt kéo dài khoảng ba giờ và xuất hiện đều đặn hai lần mỗi ngày. Kết quả xét nghiệm tại cơ sở y tế địa phương xác định người bệnh dương tính với ký sinh trùng Plasmodium falciparum và được chuyển lên Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để điều trị chuyên sâu.
BSCKII Trần Duy Hưng, Trưởng Khoa Vi rút - Ký sinh trùng, cho biết cả hai bệnh nhân đều nhập viện với các biểu hiện điển hình của sốt rét như sốt cao, rét run, đau đầu, đau mỏi toàn thân và đều có yếu tố dịch tễ quan trọng là từng sinh sống, lao động tại châu Phi.
Kết quả xét nghiệm máu xác định cả hai trường hợp đều nhiễm Plasmodium falciparum, chủng ký sinh trùng gây sốt rét phổ biến nhất tại châu Phi và cũng là nguyên nhân hàng đầu gây sốt rét ác tính.
Theo BSCKII Trần Duy Hưng, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người bệnh có nguy cơ đối mặt với nhiều biến chứng nguy hiểm như thiếu máu nặng, suy gan, suy thận, phù phổi cấp, tổn thương não, suy đa cơ quan và tử vong.
Nhờ được điều trị tích cực bằng thuốc chống sốt rét đặc hiệu qua đường tiêm và đường uống, tình trạng của cả hai bệnh nhân đã cải thiện rõ rệt. Hiện các cơn sốt đã được kiểm soát, các chỉ số xét nghiệm tiến triển tốt và người bệnh tiếp tục được theo dõi sát.
Các chuyên gia cho biết, trong bối cảnh giao lưu lao động quốc tế ngày càng gia tăng, sốt rét nhập cảnh vẫn là nguy cơ y tế cần được đặc biệt lưu ý. Người lao động làm việc tại các quốc gia lưu hành sốt rét, nhất là khu vực châu Phi, cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh như ngủ màn, sử dụng thuốc chống muỗi, mặc quần áo dài tay và dùng thuốc dự phòng theo hướng dẫn của cơ sở y tế.
Đặc biệt, bất kỳ trường hợp nào xuất hiện sốt cấp tính sau khi trở về từ vùng lưu hành sốt rét đều cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám và xét nghiệm máu sớm. Việc chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời có ý nghĩa quyết định trong ngăn ngừa sốt rét ác tính và giảm nguy cơ tử vong.
Đắp lá chữa vết bỏng, người đàn ông tiểu đường phải cắt 2,5 ngón chân
Được chẩn đoán mắc đái tháo đường type 2 hơn 5 năm nhưng thấy sức khỏe vẫn “bình thường”, anh Khôi (43 tuổi, Tây Ninh) không uống thuốc đều đặn theo đơn và chưa tuân thủ chế độ dinh dưỡng dành cho người bệnh.
Một tháng trước khi nhập viện, anh vô tình bị nước sôi đổ vào bàn chân trái, gây bỏng vùng các ngón chân. Thay vì đến cơ sở y tế, người bệnh tự điều trị tại nhà bằng cách đắp lá thuốc và ngâm chân trong nước lá với hy vọng vết thương nhanh lành.
Tuy nhiên, chỉ sau vài ngày, vết bỏng không cải thiện mà ngày càng lở loét nghiêm trọng. Các ngón chân chuyển màu thâm tím, tổn thương lan rộng ra cả bàn chân, kèm theo đau nhức dữ dội.
Người bệnh được đưa đến viện cấp cứu trong tình trạng sốt cao kéo dài nhiều ngày, đau chân dữ dội và sụt 2kg. Kết quả thăm khám cho thấy người bệnh bị nhiễm trùng bàn chân trái mức độ nặng. Đáng chú ý, đường huyết lên tới 27,7 mmol/l, cao gấp nhiều lần so với mức bình thường từ 4-7,8 mmol/l. Các bác sỹ phát hiện nhiều ổ áp xe sâu và tình trạng hoại tử lan rộng tại các ngón chân.
Đặc biệt, kết quả chẩn đoán hình ảnh ghi nhận ba ngón chân đã xuất hiện viêm tủy xương, dấu hiệu cho thấy nhiễm trùng không còn khu trú ở phần mềm mà đã xâm nhập sâu vào xương.
Bác sỹ Phạm Thị Thu Hà, chuyên khoa Nội tiết - Đái tháo đường cho biết, người bệnh được điều trị tích cực bằng kháng sinh phổ rộng, kiểm soát đường huyết bằng insulin, bù dịch và theo dõi sát huyết động.
Tuy nhiên, đáp ứng điều trị không đạt như kỳ vọng. Tình trạng nhiễm trùng tiếp tục diễn tiến, buộc các bác sỹ phải đưa ra quyết định khó khăn là cắt bỏ 2,5 ngón chân đã hoại tử nhằm ngăn chặn nhiễm trùng lan rộng và tránh nguy cơ nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng đe dọa tính mạng.
Theo bác sỹ Hà, tổn thương lan rộng kèm viêm xương và các ổ áp xe sâu khiến khả năng bảo tồn chi gần như không còn. Việc cắt bỏ các ngón chân là giải pháp nhằm tránh nguy cơ phải đoạn cả bàn chân trong tương lai.
Sau phẫu thuật, người bệnh được đặt hệ thống áp lực âm (VAC) để hút dịch mủ, hỗ trợ làm đầy tổ chức hạt và hạn chế nhiễm trùng lan rộng. Tuy nhiên, do vùng mu bàn chân vẫn còn sưng đỏ, nguy cơ phải cắt bỏ cả bàn chân vẫn chưa được loại trừ.
Các chuyên gia cho biết, bàn chân của người bệnh đái tháo đường được xem là một “điểm yếu sinh học” do sự kết hợp của ba cơ chế bệnh lý nguy hiểm gồm tổn thương thần kinh ngoại biên làm giảm cảm giác đau, bệnh lý mạch máu gây giảm nuôi dưỡng mô và rối loạn miễn dịch khiến cơ thể khó kiểm soát nhiễm trùng.
Trong bối cảnh đó, chỉ một vết thương nhỏ cũng có thể trở thành cửa ngõ để vi khuẩn xâm nhập và phát triển nhanh chóng, đặc biệt nếu người bệnh tự ý đắp lá, ngâm nước thuốc hoặc xử trí trong điều kiện không bảo đảm vô khuẩn.
Loét bàn chân, nhiễm trùng, hoại tử và đoạn chi là những biến chứng nặng nề của đái tháo đường, có thể khiến người bệnh mất khả năng đi lại vĩnh viễn, làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống và gia tăng nguy cơ tử vong.
BS.CKI Phạm Thị Thu Hà khuyến cáo, đối với người mắc đái tháo đường, việc kiểm soát đường huyết ổn định là yếu tố quan trọng hàng đầu nhằm phòng ngừa biến chứng. Người bệnh cần tuân thủ điều trị, tái khám định kỳ và chăm sóc bàn chân mỗi ngày.
Đặc biệt, tuyệt đối không tự ý đắp thuốc lá, thuốc nam hay ngâm chân bằng các loại nước thuốc chưa được kiểm chứng. Những tổn thương nhỏ ở bàn chân cần được thăm khám và xử trí sớm tại cơ sở y tế.
“Với người bệnh đái tháo đường, không có tổn thương nào ở bàn chân là nhỏ nếu không được xử trí đúng cách”, bác sỹ Hà nhấn mạnh.