Khó thở kéo dài, phát hiện tăng áp phổi do bệnh tự miễn
Tháng 9/2025, bà Dương Thị Nghiệp (76 tuổi, Thái Nguyên) bắt đầu xuất hiện tình trạng khó thở khi gắng sức, đặc biệt khi đi lại hoặc làm việc nhà. Đến ngày 6/9/2025, cơn khó thở tăng nặng khiến bà phải nhập viện cấp cứu tại cơ sở y tế địa phương. Sau điều trị, triệu chứng có thuyên giảm nhưng không dứt hẳn, các sinh hoạt thường ngày vẫn bị hạn chế.
| Việc chẩn đoán và điều trị tăng áp phổi đòi hỏi sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các chuyên khoa tim mạch, hô hấp, thấp khớp, miễn dịch - dị ứng, hồi sức tích cực và chẩn đoán hình ảnh nhằm mang lại hiệu quả điều trị tối ưu cho người bệnh. |
Sang tháng 10/2025, tình trạng khó thở tái diễn với mức độ ngày càng tăng, kèm theo mệt mỏi khi di chuyển, ho nhẹ kéo dài, ăn uống kém và sụt cân. Trước diễn biến phức tạp của bệnh, gia đình đã đưa bà đến viện để thăm khám chuyên sâu.
Theo ThS.BS Lê Ngọc Anh, chuyên khoa tim mạch, kết quả siêu âm tim cho thấy người bệnh có tình trạng tăng áp phổi nặng, với áp lực động mạch phổi tâm thu ước tính khoảng 65 mmHg. Bên cạnh đó, thất phải giãn lớn, chức năng tâm thu thất phải giảm, kèm theo hở van ba lá mức độ vừa đến nhiều.
Trước tình trạng bệnh nặng và nguyên nhân chưa rõ ràng, các bác sỹ khoa Tim mạch đã phối hợp chặt chẽ với các chuyên khoa hô hấp, dị ứng - miễn dịch và chẩn đoán hình ảnh để thực hiện thêm các thăm dò chuyên sâu. Kết quả cho thấy người bệnh bị tăng áp lực động mạch phổi do bệnh lý mô liên kết, với các xét nghiệm tự miễn như anti-ANA, Centromere A, Centromere B, Sp100, PML đều dương tính.
Ở nhóm bệnh lý này, hệ miễn dịch bị “nhầm lẫn”, tự tấn công các mô của cơ thể, gây viêm và tổn thương nhiều cơ quan. Sự tấn công của các tự kháng thể vào giường mạch máu phổi dẫn đến xơ hóa, tắc nghẽn mạch, rối loạn chức năng nội mạc và rối loạn điều hòa mạch máu, từ đó gây tăng áp lực động mạch phổi. Hậu quả là quá tải thất phải, suy tim phải, biểu hiện bằng mệt mỏi và khó thở kéo dài.
Đáng chú ý, bà Nghiệp còn có nhiều bệnh nền như tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, xơ vữa và hẹp vừa mạch vành mạn tính, suy tim với phân suất tống máu bảo tồn, suy thận mạn… làm tăng nguy cơ biến chứng và khiến việc điều trị trở nên phức tạp hơn.
Người bệnh được chỉ định nhập viện để theo dõi sát, điều chỉnh phác đồ điều trị và kiểm soát triệu chứng. Các bác sỹ đã phối hợp điều trị bằng thuốc hạ áp lực động mạch phổi, thuốc điều trị bệnh lý mô liên kết và các thuốc điều trị triệu chứng như lợi tiểu.
Sau một tuần điều trị tích cực, tình trạng sức khỏe của bà Nghiệp cải thiện rõ rệt: khó thở giảm, nhịp tim và huyết áp ổn định, giảm mệt khi gắng sức, hết ho và phổi không còn dịch. Sau khi xuất viện, người bệnh tiếp tục được theo dõi và điều trị ngoại trú.
Sau 3 tháng, kết quả tái khám cho thấy diễn biến rất tích cực, áp lực động mạch phổi tâm thu giảm từ 65 mmHg xuống còn 35 mmHg, kích thước và chức năng tâm thu thất phải hồi phục gần như bình thường.
Theo các bác sỹ, tăng áp phổi là một hội chứng huyết động và sinh lý bệnh phức tạp, đặc trưng bởi tình trạng tăng áp lực động mạch phổi, dẫn đến quá tải thất phải, suy tim phải và có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Hiện nay, tăng áp phổi được phân thành 5 nhóm chính gồm tăng áp động mạch phổi; tăng áp phổi liên quan bệnh tim trái; tăng áp phổi do bệnh phổi hoặc tình trạng thiếu oxy; tăng áp phổi do tắc nghẽn động mạch phổi; và tăng áp phổi do cơ chế không rõ hoặc đa yếu tố. Mỗi nhóm có chiến lược điều trị và tiên lượng khác nhau.
Trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam, nhiều bệnh nhân tăng áp phổi chỉ được phát hiện khi bệnh đã tiến triển nặng hoặc có tổn thương cơ quan đích. Việc chưa phân loại đúng nhóm tăng áp phổi có thể dẫn đến lựa chọn điều trị không phù hợp hoặc bỏ sót chỉ định can thiệp. Do đó, chẩn đoán chính xác nguyên nhân đóng vai trò then chốt trong quản lý và điều trị bệnh.
Các chuyên gia khuyến cáo cần chủ động sàng lọc tăng áp phổi ở những nhóm nguy cơ cao như người mắc bệnh lý mô liên kết (xơ cứng bì, lupus ban đỏ hệ thống, Sjögren…), người mang đột biến gen BMPR2 hoặc có tiền sử gia đình mắc tăng áp động mạch phổi di truyền, bệnh nhân trước ghép gan hoặc tăng áp lực tĩnh mạch cửa, người nhiễm HIV, bệnh nhân có tiền sử thuyên tắc phổi, người khó thở không rõ nguyên nhân, hoặc mắc bệnh tim trái, bệnh phổi mạn tính.
Việc chẩn đoán và điều trị tăng áp phổi đòi hỏi sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các chuyên khoa tim mạch, hô hấp, thấp khớp, miễn dịch - dị ứng, hồi sức tích cực và chẩn đoán hình ảnh nhằm mang lại hiệu quả điều trị tối ưu cho người bệnh.
U ác tính lớn làm biến dạng mặt bà cụ
Một khối u niêm mạc ác tính kéo dài từ gò má trái xuống cằm, ăn mòn xương và che lấp ổ miệng đã khiến khuôn mặt bà Nguyễn Thị Tình (80 tuổi, Đồng Nai) biến dạng nghiêm trọng, không thể ăn uống, nói chuyện trong thời gian dài.
Khoảng 6 tháng trước khi nhập viện, bà Tình bắt đầu nhận thấy vùng má trái hơi sưng, đau khi nhai và có cảm giác vướng víu trong miệng.
Theo thời gian, khối u phát triển nhanh, khiến má trái luôn sưng căng, đẩy vùng má và môi lồi lõm, lệch hẳn ra ngoài. Bên trong khoang miệng xuất hiện tình trạng lở loét, rỉ dịch, gây đau nhiều. Do không thể ăn uống và nói chuyện bình thường, bà sụt gần 5kg chỉ trong vài tháng.
Tại bệnh viện, kết quả sinh thiết cho thấy bà Tình mắc ung thư niêm mạc má giai đoạn III, khối u có kích thước lớn, dài khoảng 7cm, dày 4cm. Đây là dạng ung thư vùng ổ miệng, thường gặp ở người cao tuổi và có xu hướng tiến triển nhanh.
Theo các bác sỹ, bà Tình có thói quen nhai trầu kéo dài nhiều năm, một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ung thư ổ miệng tại Việt Nam.
BS.CKI Nguyễn Huy Lộc, chuyên khoa xạ trị cho biết, với ung thư niêm mạc má, nguyên tắc điều trị chính là kiểm soát triệt để khối u tại chỗ.
Thông thường, người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u, cắt rộng tổ chức xung quanh và nạo hạch cổ nhằm loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư, hạn chế nguy cơ di căn và tái phát.
Tuy nhiên, do khối u lớn, việc phẫu thuật có thể để lại khuyết lõm vùng má, ảnh hưởng đáng kể đến chức năng nói, ăn nhai và thẩm mỹ. Dù có thể tái tạo bằng vạt da tự thân, nhưng với người bệnh tuổi cao, thể trạng yếu và nhiều bệnh nền, gia đình không mong muốn phẫu thuật. Vì vậy, xạ trị được lựa chọn là phương pháp điều trị thay thế.
Xạ trị là phương pháp không xâm lấn, không cần gây mê và không phải nằm viện suốt quá trình điều trị, giúp người bệnh tránh được các nguy cơ biến chứng phẫu thuật và có khả năng hồi phục tốt hơn. Bác sỹ đã xây dựng phác đồ xạ trị cho bà Tình gồm 33 lần xạ, tập trung vào khối u niêm mạc má và xạ dự phòng hạch cổ hai bên nhằm giảm nguy cơ di căn, tái phát.
Do khối u nằm sát da, lồi ra ngoài và gây biến dạng khuôn mặt, ngoài việc làm mặt nạ cố định có hình dáng đặc biệt ôm sát khối u, các bác sỹ còn thiết kế thêm miếng bù liều để tối ưu hiệu quả chiếu tia.
Bác sỹ Nguyễn Huy Lộc lý giải, tia xạ phát huy tác dụng tốt nhất khi chiếu vào vị trí u nằm dưới bề mặt da khoảng 2-3 cm. Trong trường hợp này, miếng bù liều bằng nhựa cứng, dày khoảng 1 cm, đóng vai trò như một lớp mô nhân tạo, giúp tia xạ đi đúng đích và hạn chế tổn thương mô lành phía dưới.
Sau 5 lần xạ trị, người bệnh đáp ứng rất tốt, khối u giảm kích thước rõ rệt, cơn đau thuyên giảm. Bà Tình có thể ăn nhai và nói chuyện dễ dàng hơn, phần u lồi trong miệng biến mất, khuôn mặt dần trở lại hình dạng gần như bình thường.
“Trước các đợt xạ tiếp theo, người bệnh được lập kế hoạch xạ trị mới dựa trên kích thước khối u đã thu nhỏ, đồng thời làm lại mặt nạ cố định và miếng bù liều để bảo đảm độ chính xác và hiệu quả điều trị”, bác sỹ Lộc cho biết.
Theo các chuyên gia, ung thư ổ miệng thường gặp ở người trên 50 tuổi có các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, uống rượu bia, nhai trầu cau, vệ sinh răng miệng kém, viêm loét mạn tính kéo dài nhưng không điều trị triệt để.
Bệnh thường được phát hiện muộn, ở giai đoạn III hoặc IV, do các triệu chứng ban đầu không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với nhiệt miệng hoặc viêm nhiễm thông thường, ít ảnh hưởng sinh hoạt nên người bệnh chủ quan.
Việc điều trị ở giai đoạn muộn có tiên lượng xấu hơn rõ rệt so với giai đoạn sớm, cả về hiệu quả điều trị lẫn chất lượng sống. Do đó, các bác sỹ khuyến cáo, khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như sưng đau vùng miệng, loét lâu lành, khó ăn nhai, nói chuyện, người bệnh cần đến cơ sở y tế để khám sớm. Đồng thời, mỗi người nên khám răng miệng định kỳ 6-12 tháng/lần để kịp thời phát hiện và điều trị các tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư ngay từ giai đoạn sớm.
Bệnh nhân suy tim được thay van tim không cần phẫu thuật
Bị hẹp khít van động mạch chủ biến chứng suy tim độ 3, bà Thủy (61 tuổi) được các bác sỹ điều trị bằng phương pháp thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI), không cần phẫu thuật mở ngực.
Trước đó, bà Thủy có tiền sử rối loạn lipid máu và đái tháo đường nhiều năm. Khoảng một tháng gần đây, bà xuất hiện triệu chứng khó thở khi gắng sức nhẹ, chỉ đi bộ vài trăm mét hoặc leo cầu thang một đến hai tầng đã phải dừng lại thở dốc. Khi tình trạng mệt mỏi ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày, bà mới đến bệnh viện thăm khám.
Kết quả siêu âm tim cho thấy bệnh nhân bị hẹp khít van động mạch chủ do thoái hóa, đã biến chứng suy tim độ 3. Bác sỹ Nguyễn Văn Dương, Trung tâm Tim mạch Can thiệp cho biết, đây là tình trạng van tim mở không hết, làm giảm nghiêm trọng lượng máu từ tim đi nuôi cơ thể, dễ dẫn đến suy tim, ngất, đột quỵ và đột tử nếu không được can thiệp kịp thời.
Theo GS-TS.Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch Can thiệp, bệnh nhân suy tim nặng, kèm nhiều bệnh nền như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, không phù hợp với phẫu thuật tim hở do nguy cơ biến chứng cao và thời gian hồi phục kéo dài. Trong trường hợp này, kỹ thuật TAVI là lựa chọn tối ưu.
Ê-kíp can thiệp sử dụng van SAPIEN 3, thế hệ van tim qua ống thông tiên tiến hiện nay. Van được đưa vào tim qua một đường mở nhỏ tại động mạch đùi, sau đó bung ra chính xác tại vị trí van bị hẹp dưới hướng dẫn của hệ thống chụp mạch hiện đại. Toàn bộ thủ thuật diễn ra trong chưa đầy một giờ, bệnh nhân chỉ cần gây tê tại chỗ.
Sau can thiệp, bà Thủy hồi phục nhanh. Chỉ một giờ sau thủ thuật, bà có thể ngồi dậy ăn uống; sau 8 giờ đi lại nhẹ nhàng và xuất viện sau ba ngày. Triệu chứng khó thở giảm rõ rệt, chức năng tim được cải thiện.
Các bác sỹ cho biết rối loạn lipid máu và đái tháo đường là những yếu tố thúc đẩy quá trình xơ vữa và thoái hóa van tim, làm tăng nguy cơ hẹp van động mạch chủ. Người bệnh cần kiểm soát tốt các bệnh nền, duy trì lối sống lành mạnh và thăm khám tim mạch định kỳ để phát hiện sớm.
TAVI là phương pháp xâm lấn tối thiểu, giúp người bệnh tránh được phẫu thuật mở ngực, giảm đau, giảm nguy cơ biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục. Với việc làm chủ kỹ thuật này, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh mang đến cơ hội điều trị hiệu quả cho nhiều bệnh nhân lớn tuổi, sức khỏe kém hoặc có nhiều bệnh lý nền.
Viêm xoang do nấm gây đau đầu dữ dội
Đau đầu dữ dội kéo dài, lan từ nửa đầu ra vùng sau gáy và ống tai trái, kèm khó thở, một nữ bệnh nhân cao tuổi phải nhập viện cấp cứu và được chẩn đoán viêm xoang do nấm đã biến chứng tiềm ẩn nhiều nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời.
Bệnh nhân là bà Lan (80 tuổi), có tiền sử đau nhức đầu hơn một tháng nhưng chưa từng đi khám. Khoảng hai ngày trước khi nhập viện, cơn đau đầu tăng nhanh về mức độ và tần suất, kèm theo khó thở, khiến gia đình phải đưa bà đến viện cấp cứu.
Theo bác sỹ Trần Thị Thúy Hằng, chuyên khoa tai mũi họng, thăm khám ban đầu ghi nhận tình trạng mũi xuất tiết nhầy đục, nghi ngờ viêm mũi xoang.
Kết quả chụp CT-scan cho thấy niêm mạc các xoang dày, thành xoang xơ dày, tắc lỗ thông xoang hàm phải và xoang bướm trái, kèm vẹo vách ngăn, khí hóa cuốn mũi. Đáng chú ý, xoang hàm phải xuất hiện cấu trúc tăng đậm độ, gợi ý viêm xoang do nấm.
Trước nguy cơ biến chứng, bác sỹ chỉ định phẫu thuật nội soi mũi xoang nhằm loại bỏ tổn thương và ngăn chặn các biến chứng nguy hiểm. Trong quá trình phẫu thuật, bác sỹ tiến hành mở xoang bướm trái và lỗ thông xoang hàm phải.
Qua nội soi, lòng xoang chứa đầy dịch mủ và mô nghi nấm; khe giữa mũi và niêm mạc xoang sàng phù nề, thoái hóa. Toàn bộ mô bệnh được lấy sạch gửi làm giải phẫu bệnh, hút rửa nhầy mủ, bơm rửa lòng xoang và chỉnh hình cuốn mũi. Kết quả giải phẫu bệnh xác định tác nhân gây bệnh là nấm Aspergillus.
Bác sỹ Hằng cho biết, nấm Aspergillus thường tạo thành khối đặc, khô, gây bít tắc hoàn toàn đường dẫn lưu xoang. Đặc biệt, xoang bướm là xoang nằm sâu, sát nền sọ và các cấu trúc thần kinh quan trọng như dây thần kinh thị giác, xoang hang, tuyến yên.
Khi xoang bị lấp đầy bởi mô nấm và mủ, dịch viêm không thoát ra được sẽ gây ứ đọng kéo dài, tạo áp lực lên thành xoang và các mô lân cận, kích thích các nhánh thần kinh sọ, từ đó gây đau đầu dữ dội, cơn đau tăng dần và kéo dài.
Ngoài ra, nhiễm nấm Aspergillus còn gây viêm mạn tính, làm niêm mạc xoang dày lên, thoái hóa và kém đáp ứng với điều trị nội khoa. Đây là lý do người bệnh viêm xoang do nấm thường đau đầu nhiều và dai dẳng hơn so với viêm xoang do vi khuẩn thông thường.
Sau phẫu thuật, tình trạng sức khỏe của bà Lan ổn định, được xuất viện sau hai ngày. Tái khám cho thấy vết mổ lành tốt, các triệu chứng đau đầu, đau vùng sau gáy, nghẹt mũi và chảy mũi đã cải thiện rõ rệt.
Theo các bác sỹ, viêm xoang do nấm là tình trạng viêm xoang có sự phát triển và sinh sôi của nấm trong các hốc mũi xoang, gây viêm nhiễm kéo dài và khó điều trị. Hai nhóm nấm thường gặp nhất là Aspergillus sp. và Zygomycetes sp., trong đó Aspergillus chiếm đa số. Bệnh thường gây nghẹt mũi, chảy nước mũi, giảm khứu giác, chảy mũi hôi, đau nhức vùng xoang, sốt và kém đáp ứng với thuốc điều trị thông thường.
Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, viêm xoang do nấm có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Nấm có thể phát triển thành khối lớn trong xoang, phá hủy cấu trúc xoang và lan sang các cơ quan lân cận như hốc mắt hoặc sọ não.
Ở người lớn tuổi, bệnh thường diễn tiến nặng hơn do hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc và cấu trúc xoang thoái hóa, khả năng dẫn lưu kém, tạo điều kiện cho nấm và mủ ứ đọng. Trong những trường hợp này, phẫu thuật nội soi mũi xoang lấy nấm là phương pháp điều trị cần thiết và hiệu quả.
Bác sỹ Hằng khuyến cáo, khi có các triệu chứng như nghẹt mũi, sổ mũi kéo dài, đau nhức vùng xoang, điều trị thuốc không hiệu quả, người bệnh nên đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng để được chẩn đoán và điều trị sớm, đặc biệt ở người cao tuổi và người có nhiều bệnh nền.
Để phòng ngừa viêm xoang do nấm, mỗi người cần giữ vệ sinh mũi họng, súc họng và rửa mũi hằng ngày, đeo khẩu trang khi ra ngoài, giữ môi trường sống khô thoáng, tránh ẩm mốc, nâng cao sức đề kháng và điều trị triệt để các đợt viêm mũi họng cấp tính.