Đổi mới thanh toán bảo hiểm y tế theo nhóm chẩn đoán
Nhấn mạnh định hướng này, TS.Vũ Mạnh Hà, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế cho biết, phương thức thanh toán theo DRG đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng như một công cụ hữu hiệu trong quản lý chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện.
| Phương thức thanh toán theo nhóm chẩn đoán (DRG) đang được Bộ Y tế xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đổi mới cơ chế tài chính y tế, hướng tới mục tiêu minh bạch, hiệu quả và công bằng trong quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế. |
Việt Nam hiện đang trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và từng bước hoàn thiện mô hình này trên cơ sở học tập kinh nghiệm quốc tế, đồng thời điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Việc xây dựng phương thức thanh toán theo DRG được triển khai dựa trên các quy định của Luật Bảo hiểm y tế và Nghị định số 188/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025. Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế (Bộ Y tế), Bộ đã chủ động thành lập Ban chỉ đạo, triển khai chuẩn hóa mã lâm sàng, xây dựng tài liệu thuật toán và từng bước hoàn thiện hệ thống dữ liệu khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Những năm qua, chính sách bảo hiểm y tế tại Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế không ngừng được mở rộng, năm 2025 ước đạt 95,16% dân số; quyền lợi người tham gia ngày càng được bảo đảm; chất lượng khám, chữa bệnh từng bước nâng cao; người dân ngày càng được tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật hiện đại.
Tuy nhiên, hệ thống cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là chi phí khám chữa bệnh gia tăng nhanh, cơ chế thanh toán theo phí dịch vụ còn bộc lộ hạn chế và tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng, trong khi yêu cầu về minh bạch và hiệu quả trong quản lý quỹ bảo hiểm y tế ngày càng cao.
Trong bối cảnh đó, việc đổi mới phương thức thanh toán trở thành yêu cầu cấp thiết. DRG được xác định là một giải pháp có tính hệ thống, giúp chuẩn hóa chi phí điều trị theo nhóm bệnh, tăng cường tính minh bạch và công bằng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời kiểm soát chi phí và hạn chế tình trạng lạm dụng dịch vụ y tế.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mô hình DRG đã được triển khai với nhiều cách tiếp cận khác nhau, mang lại những kết quả tích cực nhưng cũng đặt ra không ít thách thức.
Tại Thái Lan, hệ thống DRG được sử dụng rộng rãi trong thanh toán bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, để khắc phục hạn chế khi DRG chưa khuyến khích sử dụng các loại thuốc điều trị chi phí cao như hóa chất ung thư, quốc gia này đã áp dụng cơ chế tách riêng chi phí thuốc khỏi gói thanh toán DRG và thực hiện thanh toán bổ sung nếu tuân thủ phác đồ điều trị.
Trong khi đó, Australia lại chú trọng giám sát chất lượng dịch vụ. Quốc gia này xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng và có thể điều chỉnh giảm mức thanh toán đối với các cơ sở y tế xảy ra sai sót chuyên môn, biến chứng hoặc tái nhập viện không cần thiết. Indonesia là một ví dụ khác cho thấy, dù DRG giúp kiểm soát chi phí trung bình mỗi ca bệnh, nhưng số lượt khám chữa bệnh lại gia tăng nhanh, tạo áp lực lên quỹ bảo hiểm y tế, buộc quốc gia này phải nghiên cứu bổ sung các cơ chế kiểm soát tổng chi.
Những kinh nghiệm trên cho thấy, việc áp dụng DRG không chỉ dừng lại ở thay đổi phương thức thanh toán mà cần đi kèm các chính sách bổ trợ để kiểm soát đồng thời chi phí, chất lượng và số lượng dịch vụ y tế.
Tại Việt Nam, quá trình chuẩn bị triển khai DRG đã đạt được những bước tiến quan trọng, bao gồm việc xây dựng hệ thống phân loại bệnh tật, chuẩn hóa mã hóa lâm sàng và thử nghiệm mô hình thanh toán. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt là việc chuẩn hóa hệ thống mã hóa bệnh tật theo ICD, nâng cao chất lượng dữ liệu và xây dựng phương pháp hạch toán chi phí bệnh viện.
Bên cạnh đó, việc xây dựng các tham số thanh toán như trọng số chi phí (RW) và mức giá cơ bản (base rate) cần được thực hiện trên nền tảng dữ liệu đầy đủ, chính xác và có sự đồng thuận của các bên liên quan.
Để bảo đảm triển khai hiệu quả, các đơn vị thuộc Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần tăng cường phối hợp chặt chẽ, khẩn trương rà soát, hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách và các hướng dẫn chuyên môn, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và khả thi. Về phía các cơ sở khám chữa bệnh, cần chủ động chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết, trong đó tập trung chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đầu tư, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin phục vụ triển khai DRG.
Các sở y tế địa phương cần tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc; tổ chức đào tạo, tập huấn và lựa chọn các cơ sở đủ điều kiện tham gia thí điểm, bảo đảm việc triển khai có trọng tâm, hiệu quả. Đồng thời, sự đồng hành của các chuyên gia và tổ chức quốc tế tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm, đặc biệt trong xây dựng hệ thống phân nhóm, phương pháp tính toán và đào tạo nguồn nhân lực.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, phát triển DRG không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan chặt chẽ đến tổ chức, quản lý và chính sách. Do đó, cần có cơ chế điều phối thống nhất, bảo đảm các nhiệm vụ như xây dựng hệ thống phân loại, thu thập dữ liệu, giám định và thanh toán được triển khai đồng bộ, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới toàn diện phương thức thanh toán y tế tại Việt Nam.
Xây dựng chính sách phụ cấp sát thực tiễn để ghi nhận, đãi ngộ xứng đáng hơn nhân lực y tế
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan yêu cầu việc xây dựng chính sách trong lĩnh vực y tế phải được thực hiện theo lộ trình, bám sát thực tiễn, trong đó đặc biệt quan tâm nâng mức chi cho chế độ trực, phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với viên chức y tế, đồng thời có chính sách phù hợp hơn với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản.
Hiện nay, các chính sách phụ cấp trong lĩnh vực y tế đang được rà soát, bổ sung theo hướng hoàn thiện hệ thống quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với viên chức, người lao động công tác tại các cơ sở y tế công lập, cũng như các chế độ phụ cấp đặc thù và hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản.
Trong đó, dự thảo Nghị định quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế; hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản gồm 5 chương, 10 điều, được sửa đổi toàn diện các quy định tại Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg và Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg theo hướng thống nhất, cập nhật, bảo đảm phù hợp với bối cảnh pháp lý, kinh tế - xã hội hiện nay.
Quá trình xây dựng chính sách tập trung vào nhiều nội dung trọng tâm như: sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung các quy định mới so với hiện hành; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; bảo đảm bình đẳng giới và thực hiện chính sách dân tộc; tăng cường phân cấp, phân quyền;
Đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh và tính tương thích với các điều ước quốc tế liên quan đến chế độ phụ cấp, phụ cấp chống dịch và hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố, cô đỡ thôn, bản mà Việt Nam là thành viên.
Đối với chính sách phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với viên chức, người lao động tại các cơ sở y tế công lập, việc xây dựng Nghị định mới nhằm thay thế Nghị định số 56/2011/NĐ-CP, hướng tới cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước, đồng thời tạo động lực để đội ngũ viên chức y tế yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với hệ thống y tế cơ sở và y tế dự phòng.
Các nội dung chính của chính sách được thiết kế toàn diện, bao gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc và phương thức tính phụ cấp.
Mức phụ cấp ưu đãi theo nghề được đề xuất theo các ngưỡng từ 30%, 40%, 50%, 60%, 70% đến 100%, đồng thời bổ sung các quy định mới so với Nghị định số 56/2011/NĐ-CP, đặc biệt là quy định về thời gian không được tính hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề và lộ trình nâng mức ưu đãi lên 100%. Bên cạnh đó, đề xuất giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định cụ thể mức phụ cấp ưu đãi theo nghề trong phạm vi quản lý cũng được đặt ra nhằm bảo đảm tính phù hợp với đặc thù từng lực lượng.
Việc hoàn thiện chính sách cũng chú trọng bảo đảm sự chặt chẽ, rõ ràng về thuật ngữ chuyên ngành, nâng cao tính minh bạch và khả thi trong quá trình triển khai, qua đó thể hiện quyết tâm của ngành y tế trong việc tham mưu hoàn thiện cơ chế đãi ngộ cho lực lượng tuyến đầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chính sách phải bảo đảm tính cẩn trọng, khoa học và khả thi, Bộ trưởng Đào Hồng Lan khẳng định mục tiêu xuyên suốt là ghi nhận và đãi ngộ xứng đáng hơn đối với những đóng góp quan trọng của viên chức, người lao động tại các cơ sở y tế công lập, đặc biệt là đội ngũ tuyến đầu là những “người gác cổng” của hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
“Xây dựng chính sách trong lĩnh vực y tế phải theo lộ trình, sát thực tiễn, trong đó cần ưu tiên nâng mức chi chế độ trực, phụ cấp ưu đãi theo nghề của viên chức y tế, cũng như chính sách đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Để bảo đảm chất lượng chính sách, các nội dung đề xuất cần được rà soát, chỉnh lý kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật, có sự thống nhất cao, đi kèm với dẫn chứng cụ thể, số liệu minh bạch và cơ sở pháp lý vững chắc. Đồng thời, việc xây dựng chính sách phải gắn với đánh giá đầy đủ tác động kinh tế - xã hội, tính toán chặt chẽ các phương án, bảo đảm cân đối nguồn lực và phù hợp với đặc thù công việc, vị trí việc làm, điều kiện địa lý.
Các phương án chính sách cũng cần mang tính đón đầu, bảo đảm sự tương đồng giữa các nhóm đối tượng, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững của ngành y tế, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới.
Bộ Y tế vào cuộc vụ 2 người ở Đà Nẵng nghi ngộ độc sau ăn cá ủ chua
Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết đã nhận được thông tin về việc trên địa bàn thôn 3, xã Phước Sơn (TP Đà Nẵng) ghi nhận thêm 2 trường hợp nhập viện nghi do ngộ độc thực phẩm sau khi ăn món cá ủ chua. Hai trường hợp này lần lượt nhập viện vào các ngày 18/3/2026 và 20/3/2026, hiện đang được điều trị tại Trung tâm Y tế khu vực Phước Sơn.
Trước tình hình trên, tiếp theo Công văn số 353/ATTP-NĐTT ngày 9/3/2026 về tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng ngừa ngộ độc do độc tố Botulinum, Cục An toàn thực phẩm đã đề nghị Sở Y tế TP Đà Nẵng chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương triển khai các biện pháp cần thiết. Trong đó, yêu cầu các cơ sở khám, chữa bệnh có bệnh nhân đang điều trị phải tập trung nguồn lực, tích cực cấp cứu, điều trị, không để ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh.
Chiều 20/3, Cục An toàn thực phẩm đã có văn bản gửi Sở Y tế TP Đà Nẵng đề nghị tổ chức điều tra, truy xuất nguồn gốc thực phẩm nghi ngờ gây ngộ độc sau khi ăn cá ủ chua. Trong trường hợp cần thiết, các đơn vị cần chủ động kết nối hội chẩn liên viện, phối hợp với bệnh viện tuyến trên để kịp thời hỗ trợ chuyên môn.
Bên cạnh đó, các địa phương được yêu cầu khẩn trương đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kiến thức an toàn thực phẩm và các biện pháp phòng chống ngộ độc do sử dụng cá ủ chua cho cán bộ y tế và cộng đồng.
Đồng thời, tổ chức điều tra, truy xuất nguồn gốc thực phẩm nhằm xác định rõ nguồn cung cấp nguyên liệu, sản phẩm nghi ngờ gây ngộ độc; tiến hành lấy mẫu thực phẩm, bệnh phẩm để xét nghiệm tìm nguyên nhân; xử lý nghiêm các vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (nếu có).
Các cơ quan chức năng cũng cần theo dõi, cập nhật diễn biến các vụ ngộ độc thực phẩm do độc tố Botulinum trên địa bàn TP.Đà Nẵng và báo cáo chi tiết về Cục An toàn thực phẩm theo quy định.
Thời gian gần đây, đã ghi nhận một số vụ ngộ độc liên quan đến việc sử dụng cá ủ chua. Theo PGS-TS.Nguyễn Duy Thịnh, nguyên giảng viên Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), các loại thực phẩm tươi sống nếu nguyên liệu và quy trình chế biến không bảo đảm an toàn đều có nguy cơ nhiễm khuẩn gây ngộ độc.
Đặc biệt, vi khuẩn Clostridium botulinum có khả năng sinh ra độc tố botulinum, một trong những loại độc tố mạnh nhất được biết đến, có thể gây tử vong. Khi thực phẩm bị nhiễm bào tử vi khuẩn và được đóng kín trong môi trường yếm khí, vi khuẩn có điều kiện phát triển và sinh độc tố. Người sử dụng các sản phẩm này có thể bị ngộ độc nghiêm trọng ngay sau khi ăn.
Trước nguy cơ này, chuyên gia khuyến cáo người dân cần thận trọng khi sử dụng các thực phẩm lên men truyền thống, đặc biệt là cá ủ muối chua. Việc chế biến phải bảo đảm an toàn từ khâu lựa chọn nguyên liệu đến quy trình lên men. Trường hợp không tự chế biến đúng kỹ thuật, người dân nên lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, được sản xuất tại các cơ sở uy tín, có kiểm định và giám sát an toàn thực phẩm.