Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 23/10: Vi khuẩn E. coli đa kháng kháng sinh gây nhiễm khuẩn nguy hiểm
D.Ngân - 23/10/2026 09:15
Nhập viện trong tình trạng sốt cao 39 độ C, tiểu buốt, tiểu rắt và nước tiểu có máu, người đàn ông 53 tuổi được chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu, viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn E. coli đa kháng kháng sinh.

Vi khuẩn E. coli đa kháng kháng sinh gây nhiễm khuẩn tiết niệu nguy hiểm

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC vừa tiếp nhận điều trị một bệnh nhân nam 53 tuổi, trú tại Hà Nội, mắc nhiễm khuẩn tiết niệu và viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) đa kháng kháng sinh, với biểu hiện sốt cao, rét run, tiểu buốt, tiểu rắt và nước tiểu có màu đỏ bất thường.

Trước thời điểm nhập viện khoảng hai ngày, bệnh nhân N.K. xuất hiện tình trạng tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đỏ, kèm sốt, rét run và vã mồ hôi. Người bệnh tự sử dụng thuốc hạ sốt tại nhà nhưng các triệu chứng không cải thiện nên được chuyển đến bệnh viện để thăm khám, điều trị.

Tình trạng kháng kháng sinh đang trở thành thách thức lớn đối với hoạt động khám, chữa bệnh.

Theo BS.CKII Ngô Văn An, Phó Trưởng khoa Nội, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, thời điểm nhập viện, bệnh nhân sốt 39 độ C, các triệu chứng nhiễm khuẩn đường tiết niệu biểu hiện rõ rệt. Khai thác tiền sử cho thấy người bệnh được phát hiện tăng huyết áp khoảng 5 năm trước, đang sử dụng thuốc Forxiga 10 mg/ngày. Bệnh nhân không ghi nhận tiền sử quan hệ tình dục không an toàn, cũng không nằm viện hoặc chăm sóc người thân điều trị nội trú trong ba tháng gần đây.

Kết quả xét nghiệm máu ghi nhận số lượng bạch cầu tăng lên 18,68 G/L, gần gấp đôi giới hạn trên của khoảng tham chiếu thông thường. Đặc biệt, chỉ số CRP, một dấu ấn phản ánh tình trạng viêm trong cơ thể, lên tới 283 mg/L, cao hơn nhiều lần mức bình thường. Siêu âm cho thấy tuyến tiền liệt phì đại, kích thước 40 x 39 x 49 mm, thể tích ước tính khoảng 41 g.

Đáng chú ý, kết quả nuôi cấy nước tiểu phát hiện vi khuẩn E. coli với mật độ trên 100.000 CFU/mL. Kết hợp với triệu chứng lâm sàng và các chỉ số viêm tăng cao, kết quả này cung cấp bằng chứng quan trọng để xác định tác nhân gây nhiễm khuẩn.

Tuy nhiên, khó khăn trong điều trị xuất hiện sau khi kết quả kháng sinh đồ cho thấy chủng E. coli được phân lập có tình trạng đa kháng kháng sinh, khiến các lựa chọn điều trị bị hạn chế và đòi hỏi bác sỹ phải cân nhắc kỹ phác đồ phù hợp.

E. coli là vi khuẩn Gram âm thường cư trú trong đường ruột người và động vật. Phần lớn các chủng không gây bệnh, song một số có khả năng gây nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, tiết niệu và những cơ quan khác. Trong nhiễm khuẩn tiết niệu, vi khuẩn có thể xâm nhập vào niệu đạo, di chuyển ngược dòng và gây viêm bàng quang, viêm tuyến tiền liệt hoặc các tổn thương nghiêm trọng hơn nếu không được kiểm soát kịp thời.

Đối với những chủng vi khuẩn đã kháng nhiều loại kháng sinh, việc điều trị trở nên phức tạp do một số thuốc thường được sử dụng có thể không còn hiệu quả. Tình trạng này có nguy cơ kéo dài thời gian mắc bệnh, gia tăng chi phí điều trị và làm tăng khả năng xuất hiện biến chứng nếu người bệnh không được lựa chọn phác đồ thích hợp.

Trong ba ngày đầu điều trị, bệnh nhân được sử dụng ceftriaxone và ciprofloxacin. Sau khi có kết quả kháng sinh đồ, các bác sỹ điều chỉnh phác đồ, chuyển sang sử dụng Tazocin nhằm lựa chọn kháng sinh phù hợp hơn với đặc điểm nhạy cảm của vi khuẩn.

Sau ba ngày điều trị theo phác đồ được điều chỉnh, tình trạng bệnh nhân cải thiện rõ rệt, hết sốt, không còn tiểu rắt, tỉnh táo và đáp ứng tích cực với điều trị.

Theo bác sỹ Ngô Văn An, trường hợp này cho thấy vai trò quan trọng của xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và kháng sinh đồ trong chẩn đoán, điều trị nhiễm khuẩn, đặc biệt đối với những ca bệnh có nguy cơ liên quan đến vi khuẩn đa kháng thuốc.

Việc xác định chính xác tác nhân gây bệnh giúp bác sỹ lựa chọn kháng sinh dựa trên bằng chứng vi sinh, hạn chế sử dụng những loại thuốc mà vi khuẩn đã kháng, đồng thời tạo điều kiện theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị.

Tình trạng kháng kháng sinh đang trở thành thách thức lớn đối với hoạt động khám, chữa bệnh. Bác sỹ An khuyến cáo, người dân không nên chủ quan trước những biểu hiện như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu nhiều lần hoặc nước tiểu có màu sắc bất thường, đặc biệt nếu kèm sốt cao, rét run hay mệt mỏi nhiều. Đây có thể là dấu hiệu cảnh báo nhiễm khuẩn đường tiết niệu cần được thăm khám và điều trị kịp thời.

Người bệnh tuyệt đối không tự mua kháng sinh, sử dụng lại đơn thuốc cũ hoặc tự ý thay đổi liều điều trị, bởi việc dùng thuốc không phù hợp có thể làm giảm hiệu quả điều trị, kéo dài tình trạng nhiễm khuẩn và góp phần gia tăng nguy cơ kháng thuốc.

Ứng dụng robot phẫu thuật ung thư trực tràng

Khối ung thư trực tràng nằm cách rìa hậu môn chỉ 2 cm khiến người đàn ông 47 tuổi đối diện nguy cơ phải mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Các bác sỹ Bệnh viện K đã ứng dụng robot phẫu thuật để loại bỏ khối u, đồng thời bảo tồn cơ thắt hậu môn, hướng tới duy trì chất lượng sống cho người bệnh.

Bệnh viện K vừa thực hiện phẫu thuật bằng robot cho bệnh nhân nam B.V.S. (47 tuổi), mắc ung thư trực tràng thấp với khối u nằm ở vị trí đặc biệt khó, chỉ cách rìa hậu môn khoảng 2 cm. Ca phẫu thuật đặt ra yêu cầu bảo đảm nguyên tắc điều trị ung thư triệt căn, đồng thời nỗ lực bảo tồn chức năng hậu môn, hạn chế ảnh hưởng lâu dài đến sinh hoạt của người bệnh.

Trước đó, bệnh nhân đến khám sau khoảng hai tuần xuất hiện tình trạng rối loạn tiêu hóa, đại tiện phân lẫn máu. Kết quả chụp cộng hưởng từ tiểu khung phát hiện ung thư trực tràng thấp, giai đoạn lâm sàng cT2N0M0. Chụp cắt lớp vi tính ngực, bụng chưa ghi nhận tổn thương di căn xa, trong khi kết quả giải phẫu bệnh xác định ung thư biểu mô tuyến.

Theo Ths.Trần Đình Tân, Phó Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 1, Bệnh viện K, các khối u trực tràng nằm sát hậu môn luôn là thách thức lớn đối với phẫu thuật viên, bởi không gian thao tác hẹp, cấu trúc giải phẫu phức tạp và yêu cầu bảo tồn cơ thắt rất khắt khe.

Trước đây, nhiều bệnh nhân có khối u ở vị trí tương tự phải phẫu thuật cắt cụt trực tràng, đồng nghĩa với việc mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Tuy nhiên, sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hiện cho phép bác sỹ cân nhắc phương án điều trị ít ảnh hưởng hơn đến chức năng tự nhiên của người bệnh, nếu đặc điểm khối u và điều kiện chuyên môn cho phép.

Ngày 16/10, ê-kíp Khoa Ngoại Tiêu hóa 1, gồm Ths.Trần Đình Tân, Ths.Nguyễn Tiến Trung và Ths.Phạm Vũ Minh Hoàng, thực hiện phẫu thuật cắt trực tràng bảo tồn cơ thắt bằng kỹ thuật cắt gian cơ thắt, kết hợp nạo vét hạch vùng với sự hỗ trợ của hệ thống robot Da Vinci Xi.

Điểm đáng chú ý là ê-kíp áp dụng kỹ thuật kết nối robot một lần (single docking), cho phép thực hiện các bước phẫu thuật tại những vùng giải phẫu khác nhau mà không phải tháo và lắp đặt lại hệ thống robot giữa các giai đoạn.

Theo bác sỹ Tân, đối với ung thư trực tràng thấp, khó khăn nằm ở việc phẫu tích chính xác trong vùng tiểu khung sâu, sát hệ thống cơ thắt hậu môn, đồng thời phải giải phóng đủ chiều dài đại tràng để tạo miệng nối không căng và được tưới máu tốt, hạn chế nguy cơ biến chứng sau mổ.

Việc sử dụng robot hỗ trợ phẫu thuật viên thao tác linh hoạt, chính xác trong không gian hẹp, đồng thời tối ưu hóa quá trình tiếp cận những vị trí giải phẫu phức tạp. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào đặc điểm khối u, phạm vi tổn thương, tình trạng người bệnh và kết quả theo dõi sau phẫu thuật.

Sau can thiệp, bệnh nhân được chăm sóc, theo dõi tại bệnh viện và đã có thể chủ động sinh hoạt sau một ngày. Đây là tín hiệu hồi phục ban đầu tích cực, song kết quả điều trị lâu dài vẫn cần được đánh giá qua giải phẫu bệnh sau mổ, khả năng kiểm soát ung thư và chức năng hậu môn trong quá trình theo dõi.

Theo các bác sỹ Bệnh viện K, điều trị ung thư trực tràng hiện nay hướng tới mục tiêu loại bỏ tổn thương ác tính, hạn chế tái phát và bảo đảm chất lượng sống tốt nhất có thể cho người bệnh. Đối với những khối u nằm sát hậu môn, khả năng bảo tồn cơ thắt cần được cân nhắc thận trọng, trên cơ sở bảo đảm yêu cầu điều trị ung thư.

Ung thư gan giai đoạn tiến triển, thêm cơ hội sống nhờ liệu pháp miễn dịch kép

Một cơ sở y tế đa khoa tại Hà Nội vừa điều trị cho bà Nguyễn Thị Trinh (55 tuổi), mắc ung thư gan giai đoạn tiến triển, có khối u lớn đe dọa tính mạng.

Bệnh nhân có tiền sử viêm gan B, nhập viện trong tình trạng đau bụng, tiêu chảy và sốt cao. Kết quả chụp cắt lớp vi tính phát hiện nhiều khối u trong gan, xâm lấn tĩnh mạch cửa, trong đó khối lớn nhất ở gan phải có kích thước hơn 12 cm, nằm sát bao gan và có nguy cơ vỡ. Chỉ số AFP, một dấu ấn thường được sử dụng trong theo dõi ung thư gan, tăng lên gần 11.000 ng/ml.

Theo BS.CKII Nguyễn Thành Trung, chuyên khoa ung bướu khi thăm khám cho bệnh nhân cho hay, tình trạng bệnh nhân đòi hỏi chiến lược điều trị phối hợp nhằm kiểm soát khối u, hạn chế biến chứng nguy hiểm, đồng thời tác động đến bệnh ở giai đoạn tiến triển.

Các bác sỹ quyết định thực hiện nút mạch hóa chất qua động mạch (TACE), kết hợp phác đồ miễn dịch kép STRIDE. Dưới hướng dẫn của hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), ê-kíp đưa ống thông siêu nhỏ tiếp cận nhánh động mạch nuôi khối u, bơm hóa chất và vật liệu gây tắc mạch nhằm giảm nguồn máu nuôi dưỡng tổn thương.

Sau thủ thuật, người bệnh hồi phục tốt và tiếp tục điều trị bằng phác đồ miễn dịch kép STRIDE, kết hợp hai thuốc tác động lên các điểm kiểm soát miễn dịch CTLA-4 và PD-L1, qua đó tăng cường khả năng nhận diện, tấn công tế bào ung thư của hệ miễn dịch.

Theo bác sỹ Trung, đây là một trong những phác đồ điều trị hiện đại dành cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến triển hoặc không thể phẫu thuật.

Việc điều trị ung thư gan giai đoạn tiến triển cần được cá thể hóa dựa trên đặc điểm khối u, chức năng gan và thể trạng người bệnh. Những tiến bộ trong liệu pháp miễn dịch, kết hợp các kỹ thuật can thiệp phù hợp, đang mở rộng lựa chọn điều trị cho những trường hợp không thể phẫu thuật, dù hiệu quả có thể khác nhau giữa các bệnh nhân.

Các chuyên gia khuyến cáo, người mắc viêm gan B mạn tính, xơ gan hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao cần được quản lý, tầm soát ung thư gan định kỳ theo hướng dẫn chuyên môn. Phát hiện bệnh sớm vẫn là yếu tố quan trọng giúp nâng cao cơ hội điều trị, trong khi những phương pháp hiện đại đang góp phần cải thiện khả năng kiểm soát bệnh và chất lượng sống đối với người mắc ung thư gan giai đoạn muộn.

Tin liên quan
Tin khác