Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 23/8: Việt Nam cần dữ liệu quốc gia về đái tháo đường và bệnh nội tiết
D.Ngân - 23/08/2026 09:50
Đái tháo đường, béo phì và các rối loạn chuyển hóa đang gia tăng, trong khi nhiều bệnh được phát hiện muộn và dữ liệu còn phân tán. Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần xây dựng mạng lưới nghiên cứu quốc gia, tạo nền tảng dữ liệu đủ lớn để nhận diện đúng gánh nặng bệnh tật, phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả điều trị.

Việt Nam cần dữ liệu quốc gia về đái tháo đường và bệnh nội tiết

Đái tháo đường, bệnh nội tiết và các rối loạn chuyển hóa đang trở thành thách thức ngày càng lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, bệnh thường được phát hiện muộn, việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ chưa đồng đều và khả năng tiếp cận chuyên khoa, công nghệ mới còn khác biệt giữa các vùng miền.

Đái tháo đường, béo phì và các rối loạn chuyển hóa đang gia tăng, trong khi nhiều bệnh được phát hiện muộn và dữ liệu còn phân tán. 

GS-TS.Trần Hữu Dàng, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam cho rằng, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là xây dựng được hệ thống dữ liệu đủ tin cậy về các bệnh nội tiết và chuyển hóa của người Việt.

Đối với đái tháo đường, GS.Trần Hữu Dàng cho rằng cần tiến hành những nghiên cứu quy mô lớn nhằm xác định chính xác, chuẩn hóa tỷ lệ mắc đái tháo đường và tiền đái tháo đường trong cộng đồng.

Một vấn đề đặc biệt quan trọng là làm rõ những đặc điểm bệnh học của người Việt Nam. Nếu tại châu Âu, đái tháo đường thường gắn với tình trạng thừa cân, béo phì thì ở Việt Nam, không ít người mắc bệnh dù chỉ số BMI không cao. Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu nghiên cứu sâu hơn về yếu tố nguy cơ, đặc điểm chuyển hóa và diễn tiến bệnh trong dân số Việt Nam.

Trong khi đó, nhiều quyết định chuyên môn và chính sách hiện vẫn phải dựa trên những nguồn dữ liệu phân tán, quy mô nhỏ hoặc chưa đại diện đầy đủ. Thiếu dữ liệu chất lượng không chỉ gây khó khăn cho việc xác định đúng gánh nặng bệnh tật mà còn ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn ưu tiên, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp.

Do đó, các nghiên cứu trong thời gian tới cần đánh giá toàn diện từ tình trạng kiểm soát glucose máu, huyết áp, lipid đến tỷ lệ và mức độ biến chứng, khả năng tuân thủ điều trị, gánh nặng kinh tế cũng như chi phí do bệnh tật gây ra. Hiệu quả thực tế của các thuốc và thiết bị y tế mới trong điều trị cũng cần được nghiên cứu trên chính người bệnh Việt Nam.

Không chỉ đái tháo đường, chiến lược nghiên cứu cần mở rộng sang toàn bộ lĩnh vực nội tiết và chuyển hóa, bao gồm béo phì, rối loạn lipid máu, bệnh tuyến giáp, tuyến yên và các rối loạn nội tiết hiếm.

Với bệnh tuyến giáp, dù đây là nhóm bệnh phổ biến, dữ liệu ở quy mô quốc gia vẫn còn hạn chế. Việt Nam cần xác định rõ tỷ lệ bướu giáp, nhân giáp, rối loạn chức năng tuyến giáp, bệnh tự miễn và ung thư tuyến giáp theo từng vùng miền, giới tính và độ tuổi.

Song song với đó là yêu cầu đánh giá và chuẩn hóa hoạt động xét nghiệm, siêu âm, chọc hút tế bào và phân tầng nguy cơ, qua đó xác định đúng những trường hợp cần điều trị, hạn chế bỏ sót bệnh nhưng cũng tránh chẩn đoán và can thiệp quá mức.

Các bệnh lý tuyến yên và rối loạn nội tiết hiếm cũng cần được quan tâm nhiều hơn. U tuyến yên, to đầu chi, bệnh Cushing, tăng prolactin máu hay suy tuyến yên có thể tiến triển kín đáo, khiến người bệnh được chẩn đoán muộn. Việc xây dựng hệ thống đăng ký bệnh, chuẩn hóa chẩn đoán, theo dõi và phát triển các nhóm điều trị đa chuyên khoa được xem là giải pháp cần thiết để người bệnh tiếp cận đúng chuyên gia và các kỹ thuật, thuốc điều trị đặc hiệu.

Một thách thức khác là tình trạng thừa cân, béo phì và rối loạn chuyển hóa ngày càng phổ biến. GS.Trần Hữu Dàng nhấn mạnh béo phì cần được nhìn nhận là một bệnh mạn tính, chịu tác động đồng thời của yếu tố sinh học, môi trường, xã hội và hành vi, thay vì chỉ coi đây là vấn đề liên quan đến ý chí của người bệnh.

Nghiên cứu về béo phì vì vậy cần chú trọng đặc điểm tích tụ mỡ và nguy cơ chuyển hóa của người châu Á, cũng như mối liên hệ với đái tháo đường, tim mạch, gan nhiễm mỡ, rối loạn sinh sản và ngưng thở khi ngủ. Mục tiêu điều trị cần hướng tới cải thiện sức khỏe tổng thể và được duy trì lâu dài, thay vì chỉ tập trung vào số cân nặng giảm được.

Trước những khoảng trống hiện nay, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam đề xuất xây dựng mạng lưới nghiên cứu quốc gia với sự tham gia của các trung tâm nội tiết, bệnh viện, trường đại học và các hội chuyên ngành tại địa phương.

Một mạng lưới thống nhất sẽ tạo điều kiện hình thành những bộ dữ liệu lớn và có tính đại diện cao hơn, thay cho tình trạng các nghiên cứu nhỏ lẻ, phân tán. Đồng thời, cần thống nhất phương thức quản trị dữ liệu và đạo đức nghiên cứu; tăng cường đào tạo về nghiên cứu, thống kê, nghiên cứu triển khai và kinh tế y tế.

Việc kết nối các trung tâm cũng có thể mở thêm cơ hội để bác sỹ, nhà khoa học trẻ tham gia những dự án nghiên cứu chung, từng bước hình thành lực lượng nghiên cứu có khả năng triển khai các chương trình quy mô lớn.

Cùng với mạng lưới nghiên cứu, việc xây dựng bản đồ nhân lực nội tiết trên toàn quốc cũng được đặt ra. Bản đồ này cần phản ánh được số lượng, phân bố nhân lực, năng lực chuyên sâu và khả năng cung cấp dịch vụ tại từng địa phương, từ đó xác định những khu vực thiếu chuyên gia, xây dựng kế hoạch đào tạo, hỗ trợ chuyên môn từ xa, tổ chức chuyển tuyến phù hợp và phát triển các trung tâm tham chiếu.

Tự dùng thuốc Nam chữa bệnh hô hấp, nam thanh niên suy gan cấp, phù não nguy kịch

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận một trường hợp suy gan cấp đặc biệt nghiêm trọng sau thời gian tự sử dụng thuốc nam không rõ thành phần, nguồn gốc để điều trị các triệu chứng hô hấp.

Ths.Lê Sơn Việt, Khoa Cấp cứu cho biết, bệnh nhân L.V.G., 28 tuổi, ở Sơn La, trước đó không ghi nhận bệnh lý nền đáng chú ý. Khoảng một tháng trước khi nhập viện, người bệnh xuất hiện ho nhiều, sốt cao, tức ngực và đến khám tại một cơ sở y tế địa phương.

Tại đây, bệnh nhân được chẩn đoán theo dõi viêm phổi, chưa loại trừ u phổi và được tư vấn nhập viện để tiếp tục thăm khám, điều trị. Tuy nhiên, gia đình không đồng ý cho bệnh nhân nhập viện mà đưa về nhà, sau đó tự mua thuốc nam trên mạng cho người bệnh sử dụng.

Đáng chú ý, thành phần, nguồn gốc cũng như liều lượng của những loại thuốc này đều không được xác định rõ. Sau khoảng hai tuần uống thuốc, nam thanh niên bắt đầu xuất hiện vàng da, mệt mỏi. Đây là những dấu hiệu có thể cảnh báo tình trạng tổn thương gan. Tuy nhiên, thay vì dừng thuốc và đến cơ sở y tế kiểm tra, người bệnh vẫn tiếp tục sử dụng thêm nhiều ngày.

Sức khỏe sau đó xấu đi nhanh chóng. Chỉ đến khi xuất hiện rối loạn ý thức rồi hôn mê, gia đình mới đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế. Người bệnh tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong tình trạng đặc biệt nguy kịch.

Thời điểm nhập viện, bệnh nhân đã hôn mê sâu, vàng da rõ, đồng tử giãn và mất phản xạ ánh sáng. Kết quả xét nghiệm cho thấy chức năng gan suy giảm nghiêm trọng, bilirubin tăng gần 300 µmol/L, trong khi nồng độ amoniac (NH3) khoảng 350 µmol/L, cao gấp nhiều lần mức bình thường.

Kết quả chụp CT sọ não cho thấy tình trạng phù não lan tỏa, các rãnh cuộn não gần như bị xóa, phù hợp với biểu hiện phù não nặng. Bác sỹ Lê Sơn Việt lý giải, khi gan suy nặng, khả năng chuyển hóa và đào thải các chất độc của cơ thể bị suy giảm. Amoniac có thể tích tụ trong máu, tác động đến hệ thần kinh trung ương, góp phần gây bệnh não gan và phù não.

Suy gan cấp vì vậy không chỉ biểu hiện bằng vàng da mà có thể kéo theo hàng loạt rối loạn nghiêm trọng như rối loạn đông máu, rối loạn chuyển hóa và bệnh não gan. Tình trạng thần kinh có thể tiến triển nhanh từ lơ mơ đến hôn mê. Khi phù não nặng gây tăng áp lực nội sọ, người bệnh có nguy cơ tổn thương thần kinh nghiêm trọng và đe dọa trực tiếp tính mạng.

Bệnh nhân được triển khai các biện pháp hồi sức tích cực, trong đó có lọc máu và thay huyết tương nhằm hỗ trợ điều trị, loại bỏ một phần các chất độc tích tụ trong máu. Tuy nhiên, do đến viện khi suy gan và tổn thương não đã ở giai đoạn rất nặng, tiên lượng của người bệnh rất xấu. Sau ba ngày điều trị tích cực nhưng tình trạng không cải thiện, gia đình xin đưa bệnh nhân về chăm sóc.

Điều đáng tiếc trong trường hợp này là những dấu hiệu cảnh báo tổn thương gan đã xuất hiện tương đối sớm. Bác sỹ Lê Sơn Việt cho rằng, nếu người bệnh dừng sản phẩm nghi ngờ và đến cơ sở y tế kiểm tra chức năng gan ngay khi xuất hiện vàng da, mệt mỏi, tổn thương có thể đã được phát hiện và xử trí sớm hơn.

Thực tế, người bệnh vẫn tiếp tục sử dụng thuốc cho tới khi xuất hiện rối loạn ý thức và hôn mê sâu. Các bác sỹ cũng cảnh báo, những sản phẩm được gọi chung là “thuốc nam”, “thuốc gia truyền” hay các chế phẩm mua qua mạng có thể chứa nhiều thành phần khác nhau. Khi sản phẩm không xác định được chính xác thành phần, hàm lượng và nguồn gốc, bác sỹ cũng gặp khó khăn trong việc xác định tác nhân gây tổn thương gan và lựa chọn hướng xử trí.

Trường hợp trên một lần nữa cảnh báo nguy cơ của việc tự điều trị khi chưa xác định rõ nguyên nhân gây bệnh. Đặc biệt, việc sử dụng những sản phẩm không rõ nguồn gốc, thành phần và liều lượng có thể khiến người bệnh đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng, đồng thời làm chậm thời điểm được chẩn đoán và điều trị đúng bệnh.

Các bác sỹ khuyến cáo người dân không tự mua thuốc hoặc các sản phẩm không rõ nguồn gốc trên mạng để điều trị bệnh. Khi có các triệu chứng kéo dài hoặc bất thường, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được chẩn đoán nguyên nhân và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Trong quá trình sử dụng bất kỳ loại thuốc hay sản phẩm hỗ trợ nào, nếu xuất hiện mệt mỏi nhiều, chán ăn, buồn nôn, vàng mắt, vàng da, nước tiểu sẫm màu, lơ mơ hoặc thay đổi ý thức, cần ngừng sản phẩm nghi ngờ và đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt để kiểm tra chức năng gan và được xử trí kịp thời.

Với suy gan cấp, khoảng thời gian từ những dấu hiệu cảnh báo ban đầu đến tình trạng nguy kịch có thể rất ngắn. Vì vậy, nhận diện sớm bất thường và không trì hoãn việc thăm khám có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hạn chế những hậu quả đáng tiếc.

Nhồi máu cơ tim trẻ hóa, cảnh báo từ những ca bệnh tuổi 20-30

Tỷ lệ người trẻ phải can thiệp tim mạch đang gia tăng nhanh chóng. Đáng chú ý, không ít trường hợp nhồi máu cơ tim xuất hiện ở độ tuổi vốn trước đây ít được xem là nhóm nguy cơ cao. GS-TS.Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam, Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) cho biết, thực tế điều trị đã ghi nhận nhiều ca nhồi máu cơ tim dưới 30 tuổi, thậm chí có trường hợp dưới 20 tuổi.

Thông tin được ông chia sẻ tại Hội thảo “Tim mạch can thiệp Việt Nam hội nhập quốc tế: Từ làm chủ kỹ thuật đến kiến tạo triết lý mới trong can thiệp mạch vành phức tạp”, vừa tổ chức, GS-TS.Phạm Mạnh Hùng cho biết, trong số các bệnh nhân được can thiệp, nhóm dưới 50 tuổi hiện chiếm khoảng 30%, trong khi bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm tới 15-20%.

Những con số này cho thấy gánh nặng bệnh tim mạch đang có sự dịch chuyển đáng chú ý về độ tuổi. Một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm là lối sống và sự tích lũy các yếu tố nguy cơ ngày càng sớm.

Phần lớn các trường hợp bệnh tim mạch ở người trẻ được ghi nhận có liên quan đến hút thuốc lá, bên cạnh tình trạng thừa cân, béo phì và yếu tố tiền sử gia đình.

Trong khi bệnh động mạch vành mạn tính có thể được kiểm soát trong thời gian dài nếu phát hiện và điều trị phù hợp, một cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể xảy ra đột ngột và đe dọa tính mạng trong thời gian rất ngắn. Dựa trên những ước tính từ thực tế lâm sàng, số ca nhồi máu cơ tim hoặc hội chứng mạch vành cấp tại Việt Nam có thể lên tới hơn 100.000 trường hợp mỗi năm.

Thực tế này đặt ra yêu cầu dự phòng bệnh tim mạch từ sớm, thay vì chờ tới khi xuất hiện triệu chứng hoặc biến cố. Người dân cần kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ thông qua chế độ ăn uống lành mạnh, duy trì vận động thể lực, kiểm soát cân nặng, bỏ thuốc lá và hạn chế rượu bia.

Các bệnh lý làm gia tăng nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường cũng cần được phát hiện, theo dõi và kiểm soát tốt.

Đặc biệt, khi nhồi máu cơ tim xảy ra, thời gian trở thành yếu tố quyết định khả năng cứu sống người bệnh và bảo tồn cơ tim. Việc nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế có chuyên khoa tim mạch để được tái thông mạch vành kịp thời có ý nghĩa sống còn.

Hiện nay, năng lực can thiệp tim mạch tại Việt Nam đã được mở rộng đáng kể, hầu hết bệnh viện tuyến tỉnh đã có khả năng thực hiện can thiệp mạch vành cấp cứu theo tiêu chuẩn điều trị.

Cùng với sự gia tăng của bệnh tim mạch, đặc biệt những trường hợp có tổn thương phức tạp, tim mạch can thiệp Việt Nam đang bước sang một giai đoạn phát triển mới.

Tại hội thảo quy tụ hơn 200 chuyên gia tim mạch can thiệp trong nước, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quốc tế, nhiều vấn đề khó của can thiệp động mạch vành được tập trung thảo luận, từ tắc hoàn toàn mạn tính, tổn thương chia đôi, vôi hóa nặng đến bệnh nhiều nhánh và những tổn thương giải phẫu phức tạp.

Đáng chú ý, các bác sỹ Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 đã thực hiện những ca can thiệp mạch vành phức tạp và truyền trực tiếp tới hội trường để các chuyên gia cùng theo dõi, trao đổi chuyên môn.

GS-TS.Phạm Mạnh Hùng cho rằng, thực hiện một ca can thiệp truyền trực tiếp tới diễn đàn chuyên môn quốc tế không đơn thuần đòi hỏi kỹ năng của bác sỹ can thiệp mà cần sự vận hành đồng bộ của cả hệ thống, từ lựa chọn bệnh nhân, xây dựng chiến lược trước thủ thuật, chuẩn bị phương tiện đến gây mê - hồi sức, điều dưỡng, kỹ thuật viên và kiểm soát an toàn.

Những năm gần đây, Việt Nam đã tiếp nhận và làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến, bao gồm các phương pháp xử lý tổn thương động mạch vành khó và phức tạp. Từ vị trí tiếp nhận kỹ thuật của các trung tâm lớn trên thế giới, tim mạch can thiệp trong nước đang chuyển dần sang giai đoạn chuẩn hóa thực hành, đào tạo thế hệ kế cận và chủ động tham gia sâu hơn vào các diễn đàn học thuật quốc tế.

Một xu hướng nổi bật khác là chuyển từ can thiệp chủ yếu dựa trên hình ảnh chụp mạch sang can thiệp mạch vành chính xác (Precision PCI).

Các phương tiện hình ảnh trong lòng mạch như siêu âm trong lòng mạch (IVUS) và những công nghệ hình ảnh độ phân giải cao giúp bác sỹ đánh giá chính xác hơn kích thước mạch máu, đặc điểm mảng xơ vữa, mức độ và phân bố vôi hóa. Từ đó, bác sỹ có thêm căn cứ lựa chọn phương pháp xử lý tổn thương, kích thước thiết bị và đánh giá kết quả sau can thiệp.

Công nghệ cũng hỗ trợ kiểm tra độ áp sát, độ nở của stent và phát hiện những vấn đề mà hình ảnh chụp mạch thông thường có thể bỏ sót. Cùng với tiến bộ kỹ thuật, triết lý điều trị trong tim mạch can thiệp cũng đang thay đổi. Mục tiêu không chỉ là xử lý thành công tổn thương trước mắt mà phải hướng tới lợi ích lâu dài của từng người bệnh.

Tin liên quan
Tin khác