Vừa qua, Bệnh viện Nhi Trung ương thông tin về trường hợp bé gái 4 tuổi, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, mắc bệnh não hoại tử cấp tính liên quan đến cúm A. Trẻ khởi phát với sốt cao, ho, đau họng trong hai ngày, sau đó tình trạng nhanh chóng xấu đi và rơi vào hôn mê. Dù được điều trị tích cực, tổn thương não vẫn tiếp tục tiến triển và bệnh nhi tử vong sau hai ngày nhập viện.
Trường hợp này cho thấy cúm ở trẻ em không phải lúc nào cũng chỉ dừng lại ở sốt, ho hay đau họng. Những biến chứng nghiêm trọng có thể xuất hiện rất sớm, kể cả ở trẻ trước đó khỏe mạnh và không có bệnh nền.
| Một bệnh nhi điều trị tích cực do cúm A tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Ảnh: Bệnh viện Nhi Trung ương |
Bác sỹ Trương Hữu Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP.HCM cho biết, cúm thường gây các biến chứng ở đường hô hấp như viêm phổi, bội nhiễm và suy hô hấp. Tuy nhiên, một số trẻ có thể xuất hiện biến chứng thần kinh như co giật, viêm não hoặc bệnh não liên quan đến cúm. Trong số đó, bệnh não hoại tử cấp tính, còn gọi là acute necrotizing encephalopathy - ANE, là biến chứng hiếm gặp nhưng có mức độ đặc biệt nghiêm trọng.
ANE được mô tả trong y văn từ năm 1995, thường xuất hiện sau vài ngày sốt và có thể diễn tiến rất nhanh. Các tổng quan y khoa ghi nhận khoảng 30-40% trẻ mắc bệnh tử vong. Những trường hợp sống sót vẫn có nguy cơ để lại di chứng thần kinh nặng như rối loạn vận động, suy giảm nhận thức hoặc mất khả năng tự chăm sóc. Tiên lượng của người bệnh phụ thuộc vào mức độ tổn thương não, thời điểm phát hiện cũng như khả năng đáp ứng điều trị.
Cơ chế dẫn đến tổn thương não hiện chưa được xác định đầy đủ. Một giả thuyết được nhiều nghiên cứu đề cập là phản ứng miễn dịch quá mức sau nhiễm virus làm gia tăng các chất trung gian gây viêm, từ đó có thể làm tổn thương hàng rào máu não, gây phù não và phá hủy mô. Do cơ chế bệnh sinh vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu, chưa thể khẳng định virus cúm trực tiếp tấn công và phá hủy mô não trong tất cả các trường hợp.
Theo bác sỹ Khanh, điều quan trọng là cha mẹ phải nhận biết sớm những biểu hiện bất thường về thần kinh ở trẻ đang mắc cúm. Trẻ cần được đưa đến bệnh viện ngay nếu xuất hiện lơ mơ, khó đánh thức, mất phương hướng, thay đổi hành vi, co giật, yếu tay chân hoặc đi đứng bất thường. Đây có thể là dấu hiệu biến chứng thần kinh và cần được đánh giá khẩn cấp, thay vì tiếp tục chờ trẻ hết sốt hoặc tự theo dõi tại nhà.
Ngoài các biểu hiện thần kinh, trẻ mắc cúm cũng cần được khám sớm nếu xuất hiện khó thở, thở nhanh, đau ngực, tím môi, uống kém, tiểu ít hoặc có dấu hiệu mất nước. Trường hợp trẻ đã giảm sốt nhưng sau đó sốt trở lại, ho tăng hoặc mệt nhiều hơn cũng cần được kiểm tra để loại trừ biến chứng.
Thuốc kháng sinh không có tác dụng điều trị virus cúm và chỉ được sử dụng khi bác sỹ xác định hoặc nghi ngờ có bội nhiễm vi khuẩn. Thuốc kháng virus cần được dùng theo chỉ định, đặc biệt đối với trẻ nhỏ, trẻ có bệnh nền hoặc các trường hợp diễn tiến nặng.
Nếu trẻ được chăm sóc tại nhà, cha mẹ cần cho trẻ nghỉ ngơi, uống đủ nước, ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, đồng thời thường xuyên theo dõi nhịp thở, mức độ tỉnh táo, lượng nước uống và số lần đi tiểu. Có thể vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý và giữ không gian sinh hoạt thông thoáng. Phụ huynh không nên tự phối hợp nhiều loại thuốc cảm cúm bởi một số sản phẩm có thể chứa trùng hoạt chất, làm tăng nguy cơ dùng thuốc quá liều.
Cúm lây chủ yếu qua giọt bắn và dịch tiết đường hô hấp, nguy cơ lây truyền tăng cao trong môi trường trẻ sinh hoạt gần nhau như lớp học, nhà trẻ hoặc không gian kín. Những nhóm có nguy cơ diễn tiến nặng gồm trẻ dưới 5 tuổi, người trên 65 tuổi, phụ nữ mang thai và người mắc các bệnh mạn tính như tim phổi, đái tháo đường, suy thận, xơ gan hoặc suy giảm miễn dịch.
Trẻ cần được hướng dẫn che miệng khi ho, rửa tay thường xuyên, không dùng chung cốc uống nước và hạn chế tiếp xúc gần với người đang có triệu chứng hô hấp. Trẻ mắc cúm nên nghỉ học cho đến khi hết sốt và sức khỏe cải thiện theo hướng dẫn của bác sỹ.
Bên cạnh các biện pháp vệ sinh và hạn chế lây nhiễm, tiêm vắc-xin cúm là một trong những biện pháp chủ động giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, nhập viện và các biến chứng nặng. Mức độ bảo vệ có thể thay đổi giữa các mùa cúm, phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe và mức độ tương đồng giữa chủng virus lưu hành với thành phần của vắc-xin.
Theo bác sỹ của Hệ thống tiêm chủng Long Châu, vắc-xin cúm hiện được sử dụng để phòng các chủng cúm mùa phổ biến như A/H1N1, A/H3N2 và các dòng cúm B. Trẻ có thể bắt đầu tiêm từ 6 tháng tuổi. Trẻ từ 6 tháng đến dưới 9 tuổi cần hai mũi cách nhau ít nhất 4 tuần nếu chưa từng nhận đủ hai mũi vắc-xin cúm trước đó hoặc không rõ lịch sử tiêm. Trẻ từ 9 tuổi và người lớn thường tiêm một mũi mỗi năm.
Phụ nữ mang thai cũng có thể tiêm vắc-xin cúm trong thai kỳ theo tư vấn của nhân viên y tế. Mỗi người cần trao đổi với bác sỹ hoặc cơ sở tiêm chủng để xác định lịch tiêm phù hợp, đồng thời tiêm nhắc hằng năm nhằm duy trì miễn dịch và cập nhật khả năng phòng các chủng cúm đang lưu hành.
Với khả năng xuất hiện biến chứng nặng trong thời gian ngắn, việc theo dõi sát trẻ mắc cúm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bất kỳ thay đổi nào về ý thức, hành vi, vận động hoặc xuất hiện co giật đều không nên xem là biểu hiện thông thường của bệnh cúm mà cần được đánh giá y tế càng sớm càng tốt.