Viêm phổi tái diễn, phát hiện bệnh tự miễn hiếm gặp
Bà Cúc, 59 tuổi, từng điều trị viêm phổi tại một số cơ sở y tế nhưng tình trạng bệnh chỉ cải thiện tạm thời rồi tái diễn, ngày càng nặng trong khoảng một tháng. Người bệnh sau đó từ Trung Quốc trở về Việt Nam để tiếp tục thăm khám.
| Việc nhận diện sớm bệnh tự miễn có tổn thương phổi giúp người bệnh được điều trị đúng hướng, hạn chế tổn thương phổi tiếp tục tiến triển và giảm nguy cơ suy hô hấp cùng các biến chứng nghiêm trọng. |
Tại bệnh viện, bà nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, khó thở, yếu cơ vùng gốc chi, rõ nhất ở hai chân, kèm phù chân và những biểu hiện bất thường tại khớp. Kết quả chụp CT ngực ghi nhận nhiều vùng kính mờ và đông đặc ở cả hai phổi, tập trung chủ yếu phía sau và vùng đáy phổi, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp.
Tuy nhiên, những biểu hiện đi kèm khiến các bác sỹ nghi ngờ nguyên nhân không đơn thuần nằm ở phổi mà có thể liên quan đến một bệnh lý toàn thân. Người bệnh được thực hiện các xét nghiệm tìm vi khuẩn, virus, nấm và những tác nhân gây nhiễm trùng đường hô hấp nhưng không xác định được nguyên nhân. Trong khi đó, xét nghiệm miễn dịch cho kết quả dương tính với một số tự kháng thể.
Kết hợp kết quả xét nghiệm với các biểu hiện lâm sàng, các bác sỹ hướng đến chẩn đoán hội chứng kháng synthetase - một bệnh tự miễn hiếm gặp. Bác sỹ Lã Quý Hương, chuyên khoa hô hấp cho biết, hội chứng kháng synthetase ước tính gặp ở khoảng 9/100.000 người.
Ở người mắc hội chứng này, hệ miễn dịch tấn công nhầm các mô của cơ thể. Bệnh có thể gây tổn thương nhiều cơ quan, đặc biệt là phổi, cơ, khớp và da. Điều khiến bệnh dễ bị bỏ sót là các triệu chứng tại những cơ quan này không nhất thiết xuất hiện cùng lúc. Có trường hợp tổn thương phổi xuất hiện nổi bật trong khi những biểu hiện ở cơ hoặc da còn kín đáo, khiến người bệnh được điều trị theo từng triệu chứng riêng lẻ.
Trường hợp bà Cúc cũng có tổn thương phổi nổi bật hơn những biểu hiện ở cơ và da. Kết quả thăm khám xác định người bệnh mắc bệnh phổi kẽ với kiểu hình viêm phổi tổ chức hóa, dạng tổn thương có thể xuất hiện trong hội chứng kháng synthetase.
Theo bác sỹ Hương, bệnh phổi kẽ nếu không được phát hiện và kiểm soát phù hợp có thể tiến triển nhanh, làm suy giảm chức năng hô hấp, thậm chí gây suy hô hấp cấp. Tổn thương phổi nặng cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến tiên lượng của người bệnh.
Việc điều trị cho bà Cúc còn phức tạp do người bệnh đồng thời mắc suy tim, tổn thương cơ tim, nhiễm Cytomegalovirus, Epstein-Barr virus và nấm thanh quản. Trong khi hội chứng kháng synthetase thường cần điều trị bằng corticosteroid và thuốc ức chế miễn dịch nhằm kiểm soát phản ứng tự miễn, các thuốc này lại có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng hoặc khiến những virus vốn tồn tại trong cơ thể hoạt động trở lại.
Do đó, các bác sỹ phải đồng thời giải quyết hai bài toán là kiểm soát bệnh tự miễn và hạn chế nguy cơ nhiễm trùng. Sau hội chẩn đa chuyên khoa, người bệnh được điều trị bệnh tự miễn bằng corticosteroid liều cao kết hợp thuốc ức chế miễn dịch, đồng thời kiểm soát nhiễm trùng, điều trị suy tim và dự phòng những biến chứng liên quan đến quá trình ức chế miễn dịch.
Sau hai tuần, tình trạng hô hấp của bà Cúc dần ổn định, tổn thương phổi trên hình ảnh học giảm. Người bệnh được xuất viện và tiếp tục theo dõi định kỳ. Bác sỹ Lã Quý Hương lưu ý, hội chứng kháng synthetase có thể bị nhầm với viêm phổi nhiễm trùng, một số bệnh phổi kẽ hoặc bệnh lý cơ xương khớp do biểu hiện ban đầu tương đối giống nhau.
Người có các triệu chứng hô hấp kéo dài, tái diễn hoặc không cải thiện như kỳ vọng sau điều trị viêm phổi, đặc biệt nếu xuất hiện thêm yếu cơ, đau hoặc viêm khớp, tổn thương da và những dấu hiệu bất thường khác, cần được thăm khám để tìm nguyên nhân.
Việc nhận diện sớm bệnh tự miễn có tổn thương phổi giúp người bệnh được điều trị đúng hướng, hạn chế tổn thương phổi tiếp tục tiến triển và giảm nguy cơ suy hô hấp cùng các biến chứng nghiêm trọng.
Vẫn cử động được bàn tay sau tai nạn, người phụ nữ phát hiện gãy xương cổ tay
Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC vừa tiếp nhận một phụ nữ 66 tuổi, ở Phú Thọ, đến khám trong tình trạng sưng đau, hạn chế vận động cổ tay trái sau tai nạn giao thông.
Trước đó, người bệnh tự ngã trong lúc đi xe máy. Sau tai nạn, cổ tay trái sưng đau rõ và vận động khó khăn nên được người nhà đưa đến bệnh viện kiểm tra. Qua thăm khám, bác sỹ ghi nhận cổ tay trái sưng, đau, hạn chế vận động và có điểm đau chói cố định tại đầu dưới xương quay. Đáng chú ý, các đầu ngón tay vẫn hồng, khả năng vận động và cảm giác bình thường, chưa ghi nhận dấu hiệu ảnh hưởng rõ đến tuần hoàn và thần kinh ngoại vi.
Tuy nhiên, kết quả chụp X-quang cho thấy người bệnh bị gãy kín đầu dưới xương quay trái, ổ gãy không di lệch. Do ổ gãy không di lệch và tương đối ổn định, các bác sỹ lựa chọn điều trị bảo tồn, bó bột cố định cẳng - bàn tay. Trong giai đoạn đầu, bột được rạch dọc nhằm hạn chế nguy cơ chèn ép do vùng tổn thương còn sưng nề.
Người bệnh được điều trị ngoại trú, sử dụng thuốc giảm đau, giảm sưng và tái khám theo các mốc một ngày, một tuần và một tháng để kiểm tra tình trạng ổ gãy cũng như tuần hoàn, cảm giác và vận động của bàn tay.
Sau một ngày bó bột, các đầu ngón tay hồng ấm, tình trạng sưng giảm, không xuất hiện tê bì và chưa có dấu hiệu chèn ép bột. Một tuần sau, vùng tổn thương tiếp tục giảm sưng, tuần hoàn, vận động và cảm giác đầu chi ổn định. Người bệnh được chuyển sang bó bột tròn kín để tiếp tục cố định ổ gãy.
Sau một tháng, người bệnh không còn đau cổ tay, vận động và cảm giác bàn tay tốt. Bác sỹ tháo bột và hướng dẫn tập phục hồi chức năng để từng bước cải thiện tầm vận động và sức cơ cổ tay, bàn tay.
Theo bác sỹ Trần Xuân Hiệp, Chuyên khoa Ngoại, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, gãy đầu dưới xương quay là một trong những dạng gãy xương thường gặp ở chi trên. Chấn thương thường xảy ra sau cú ngã chống bàn tay xuống đất hoặc lực tác động trực tiếp vào vùng cổ tay.
Xương quay là một trong hai xương dài của cẳng tay, nằm về phía ngón cái và kéo dài từ khuỷu đến cổ tay, có vai trò quan trọng đối với hoạt động của cẳng tay và bàn tay.
Gãy đầu dưới xương quay có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nguyên nhân có sự khác biệt. Ở người trẻ, chấn thương thường liên quan tai nạn giao thông, lao động hoặc thể thao với lực tác động mạnh. Trong khi đó, người cao tuổi có thể gãy xương chỉ sau những chấn thương năng lượng thấp, nhất là trường hợp giảm mật độ xương hoặc loãng xương.
Tổn thương có thể gãy ngoài khớp hoặc phạm khớp, có hoặc không có di lệch, thậm chí đi kèm tổn thương dây chằng, sụn khớp hoặc thần kinh.
Tùy đặc điểm ổ gãy, mức độ di lệch, tình trạng mô mềm, tuổi và sức khỏe của người bệnh, bác sỹ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Với ổ gãy không di lệch hoặc di lệch ít, còn vững và không có tổn thương khớp nghiêm trọng, người bệnh có thể được điều trị bảo tồn bằng nắn chỉnh nếu cần, sau đó bất động bằng nẹp hoặc bột và theo dõi X-quang định kỳ.
Phẫu thuật được cân nhắc đối với những trường hợp gãy di lệch nhiều, mất vững, gãy phạm khớp hoặc không đạt kết quả với điều trị bảo tồn. Bác sỹ lưu ý, trong thời gian bó bột, người bệnh cần theo dõi màu sắc, nhiệt độ, cảm giác và khả năng vận động của các ngón tay. Nếu đau tăng nhiều, sưng nề, tê bì, ngón tay lạnh, tím tái, mất cảm giác hoặc không thể cử động, cần đến cơ sở y tế kiểm tra sớm.
Bột quá chặt, quá lỏng, nứt, mềm hoặc xuất hiện dịch tiết, mùi bất thường bên trong cũng là những dấu hiệu cần được xử lý. Người bệnh không nên tự tháo, cắt bột hoặc đưa vật dụng vào bên trong để gãi vì có thể gây tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Đáng lưu ý, sau chấn thương cổ tay, việc bàn tay và các ngón tay vẫn cử động được không đồng nghĩa với xương không bị tổn thương.
Bác sỹ khuyến cáo, nếu cổ tay sưng đau, xuất hiện điểm đau chói cố định hoặc hạn chế vận động sau ngã, va đập hay tai nạn, người bệnh nên đi khám sớm. Chẩn đoán đúng tổn thương và điều trị kịp thời giúp ổ gãy phục hồi tốt hơn, đồng thời hạn chế nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến chức năng cổ tay và bàn tay.
Tăng huyết áp 10 năm, phát hiện khối u tuyến thượng thận khi hai chân đột ngột yếu liệt
Anh Hoàng, 43 tuổi, đến viện khám sau khi xuất hiện tình trạng mệt nhiều, yếu cơ rồi đột ngột yếu hai chân. Thời điểm nhập viện, huyết áp tâm thu của người bệnh lên tới 160 mmHg, trong khi kali máu chỉ còn 1,47 mmol/L, thấp hơn nhiều so với mức bình thường 3,5-5 mmol/L.
Kết quả chụp CT phát hiện khối u tuyến thượng thận trái kích thước khoảng 2 cm. TS.Lê Phúc Liên, chuyên khoa thận, tiết niệu khi thăm khám cho bệnh nhân cho biết, khối u tiết quá mức hormone aldosterone, khiến cơ thể tăng giữ muối, nước và đào thải nhiều kali qua nước tiểu. Người bệnh được chẩn đoán mắc cường aldosterone nguyên phát, còn gọi là hội chứng Conn.
Đáng chú ý, anh Hoàng đã có tiền sử tăng huyết áp khoảng 10 năm và phải sử dụng thuốc điều trị. Trước lúc nhập viện, người bệnh ban đầu xuất hiện yếu cơ vùng cổ, hai tay, sau đó đột ngột yếu hai chi dưới, sức cơ chỉ còn 3/5.
Theo bác sỹ, nồng độ aldosterone tăng bất thường có thể làm kali máu giảm sâu, gây mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút, thậm chí yếu liệt đột ngột. Hạ kali máu nghiêm trọng còn ảnh hưởng đến hoạt động điện của tim, làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp. Trường hợp nặng có thể gây giảm sức co bóp cơ tim, rối loạn nhịp nguy hiểm, suy hô hấp do liệt cơ hô hấp, thậm chí đe dọa tính mạng.
Mặc dù khối u tuyến thượng thận có chỉ định phẫu thuật, người bệnh chưa thể mổ ngay do nồng độ kali quá thấp, làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp trong quá trình gây mê và phẫu thuật.
Các bác sỹ chuyên khoa Nội tiết, Thận học và Tiết niệu hội chẩn, ưu tiên điều chỉnh kali máu và kiểm soát huyết áp trước khi xử lý khối u. Người bệnh được truyền kali tĩnh mạch, xét nghiệm kiểm tra kali máu ba giờ một lần, đồng thời theo dõi sát huyết áp và tình trạng tim mạch.
Sau một tuần điều trị, nồng độ kali ổn định, người bệnh đủ điều kiện phẫu thuật. Các bác sỹ tiến hành cắt tuyến thượng thận chứa khối u bằng hệ thống phẫu thuật robot. Tuyến thượng thận nằm sâu trong ổ bụng, gần nhiều mạch máu và cơ quan quan trọng, đòi hỏi quá trình bóc tách phải hạn chế tổn thương các cấu trúc lân cận. Sau hơn 100 phút, ca phẫu thuật hoàn tất.
Một ngày sau mổ, người bệnh có thể vận động nhẹ. Sau khi loại bỏ nguồn tiết aldosterone bất thường, chỉ số kali và huyết áp dần ổn định. Anh Hoàng xuất viện sau ba ngày hậu phẫu.
Tuyến thượng thận là cơ quan nhỏ nằm phía trên hai quả thận nhưng tham gia sản xuất nhiều hormone quan trọng. Trong đó, aldosterone đóng vai trò điều hòa huyết áp và cân bằng natri, kali trong cơ thể.
Cường aldosterone nguyên phát xảy ra khi tuyến thượng thận sản xuất quá nhiều aldosterone. Bệnh có thể diễn tiến âm thầm, biểu hiện bằng tăng huyết áp, mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút hoặc những cơn yếu liệt.
Vì những dấu hiệu này không đặc hiệu, người bệnh có thể chỉ được điều trị tăng huyết áp trong thời gian dài mà nguyên nhân phía sau chưa được phát hiện. Các bác sỹ lưu ý, người tăng huyết áp kèm hạ kali máu, đặc biệt kali giảm không rõ nguyên nhân hoặc huyết áp khó kiểm soát dù đang điều trị, cần được thăm khám để xác định nguyên nhân.
Người bệnh không nên tự bổ sung kali kéo dài hoặc chỉ sử dụng thuốc hạ huyết áp mà bỏ qua việc tìm căn nguyên, bởi trong một số trường hợp, tăng huyết áp và hạ kali máu có thể là dấu hiệu của bệnh lý tuyến thượng thận cần được điều trị.