Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 29/4: Các dấu hiệu cảnh báo ung thư da
D.Ngân - 29/04/2026 07:58
Ung thư biểu mô tế bào đáy (Basal Cell Carcinoma, BCC) là loại ung thư da phổ biến nhất, chiếm tới khoảng 75% tổng số các trường hợp ung thư da.

Các dấu hiệu cảnh báo ung thư da

Dù được đánh giá có tiên lượng tốt hơn nhiều so với các dạng ung thư khác, bệnh vẫn có thể tái phát nhiều lần và ngày càng trở nên phức tạp, ngay cả khi đã được điều trị bài bản. Thực tế này không phải là hiếm, mà bắt nguồn từ đặc tính sinh học đặc biệt của một số thể ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) nguy cơ cao, với khả năng xâm lấn khó kiểm soát.

Ảnh minh họa.

Một trường hợp điển hình là nam bệnh nhân gần 60 tuổi. Ban đầu, ông phát hiện vùng da môi trên bên phải có dấu hiệu dày lên bất thường. Sau khi thăm khám tại một bệnh viện chuyên khoa ung bướu, ông được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tế bào đáy và tiến hành phẫu thuật cắt u lần thứ nhất.

Tưởng chừng bệnh đã được kiểm soát, nhưng khoảng 3 năm sau, tại vị trí sẹo mổ cũ, vùng da bắt đầu có biểu hiện cứng, dày và đổi màu. Bệnh nhân quay lại thăm khám và được xác định BCC tái phát, buộc phải phẫu thuật lần hai với phương án cắt rộng khối u kết hợp tạo hình.

Tuy nhiên, chỉ 3 tháng sau lần mổ thứ hai, vùng cạnh mũi phải tiếp tục xuất hiện tình trạng dày và xơ cứng. Khi đến Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, kết quả sinh thiết xác định bệnh nhân mắc BCC cánh mũi phải trên nền tổn thương cũ ở môi trên.

Dù được chỉ định tiếp tục phẫu thuật, gia đình chưa đồng ý nhập viện tại thời điểm đó. Sau đó, bệnh nhân tìm đến Bệnh viện Da liễu Trung ương để được tư vấn và điều trị chuyên sâu.

Tại đây, các bác sỹ ghi nhận tổn thương dạng mảng màu da tại vùng rãnh mũi, má phải, kích thước khoảng 4×3 cm, bề mặt cứng chắc, ranh giới không rõ, có giãn mạch xung quanh. Vùng môi trên phải để lại sẹo xơ, co kéo, bề mặt không đều di chứng của hai lần phẫu thuật trước đó.

Các kết quả cận lâm sàng cho thấy một bức tranh bệnh lý phức tạp hơn nhiều so với biểu hiện bên ngoài. Soi da (dermoscopy) phát hiện hình ảnh BCC tái phát không điển hình trên nền sẹo, một dấu hiệu rất dễ bị bỏ sót nếu chỉ quan sát bằng mắt thường.

Kết quả mô bệnh học xác nhận ung thư biểu mô tế bào đáy tại vùng rãnh mũi, má với đặc điểm đặc biệt nguy hiểm, trong cùng một tổn thương tồn tại đồng thời ba thể mô học gồm thể u nhỏ, thể nông và thể thâm nhiễm. Trong đó, thể thâm nhiễm có xu hướng lan rộng âm thầm dưới da, không biểu hiện rõ trên lâm sàng, khiến ranh giới thực sự của khối u thường rộng hơn rất nhiều so với những gì có thể nhìn thấy .

Bên cạnh đó, vị trí tổn thương lại nằm ở vùng rãnh mũi, má và môi trên, thuộc “vùng H” của khuôn mặt, nơi có cấu trúc giải phẫu phức tạp, da mỏng và tập trung nhiều cơ quan quan trọng. Đây là khu vực được y văn thế giới xếp vào nhóm nguy cơ cao, đòi hỏi phương pháp điều trị chuyên sâu và độ chính xác cao.

Sau hội chẩn chuyên môn, các bác sỹ quyết định lựa chọn phẫu thuật Mohs kết hợp tạo hình tổn khuyết, phương pháp tiên tiến nhất hiện nay trong điều trị BCC nguy cơ cao và tái phát.

Bệnh nhân được phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương với sự tham gia của đội ngũ bác sỹ giàu kinh nghiệm. Hiện người bệnh vẫn đang được theo dõi, chăm sóc và thay băng hàng ngày sau điều trị.

TS.Nguyễn Hồng Sơn, Trưởng Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương, phẫu thuật Mohs là kỹ thuật cắt bỏ ung thư da theo từng lớp mỏng, đồng thời kiểm tra vi thể ngay trong phòng mổ để đảm bảo loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư trong khi vẫn bảo tồn tối đa mô lành xung quanh. Phương pháp này có tỷ lệ điều trị khỏi lên tới 90-95% đối với BCC tái phát vượt trội so với phẫu thuật thông thường.

Trên thế giới, BCC là loại ung thư phổ biến nhất ở người da trắng với tỷ lệ mắc ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, bệnh cũng đang có xu hướng tăng, đặc biệt ở các vùng da hở thường xuyên tiếp xúc ánh nắng như mặt, tai và cổ. Điểm đáng lưu ý là bệnh thường khởi phát âm thầm, không đau, không ngứa, dễ bị nhầm lẫn với nốt ruồi, u lành hoặc sẹo thông thường.

Đặc điểm nổi bật của BCC là nguy cơ tái phát vẫn tồn tại ngay cả khi đã điều trị đúng phác đồ, đặc biệt với các thể có tính xâm lấn cao như thể thâm nhiễm hoặc thể u nhỏ. Đây không phải là hạn chế của một cơ sở điều trị cụ thể, mà là thách thức chung của chuyên ngành do bản chất sinh học phức tạp của khối u.

Các bác sỹ khuyến cáo, người dân cần chú ý khi cơ thể xuất hiện những dấu hiệu bất thường như: nốt sần hoặc mảng da bóng, trong suốt, màu hồng hoặc màu da, có giãn mạch xung quanh; vết loét không lành hoặc tái phát nhiều lần;

Vùng da dày cứng, ranh giới không rõ, đặc biệt ở các vị trí như mặt, tai, cổ; hoặc sẹo cũ có sự thay đổi như cứng hơn, sưng lên, đổi màu. Khi đó, cần chủ động đến khám tại các cơ sở chuyên khoa da liễu để được đánh giá toàn diện.

Đối với những người đã từng điều trị BCC, việc tái khám định kỳ theo lịch hẹn là rất quan trọng, ngay cả khi tổn thương đã ổn định. Nếu phát hiện vùng sẹo cũ có dấu hiệu bất thường, cần thông báo sớm cho bác sỹ để được xử trí kịp thời.

Với các trường hợp BCC tái phát, tổn thương ở vùng mặt hoặc có yếu tố nguy cơ cao, người bệnh nên được tư vấn chuyên sâu, trong đó phẫu thuật Mohs là phương pháp được khuyến nghị rộng rãi trong y văn quốc tế và đã được triển khai hiệu quả tại Việt Nam.

Ung thư biểu mô tế bào đáy không phải là căn bệnh “một lần điều trị là xong”. Việc kiểm soát bệnh đòi hỏi sự theo dõi lâu dài, phối hợp đa chuyên khoa và lựa chọn đúng phương pháp điều trị. Quan trọng hơn, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời vẫn là yếu tố then chốt giúp giảm thiểu nguy cơ tái phát và nâng cao hiệu quả điều trị.

Thay van động mạch phổi qua da thành công cho bé gái 14 tuổi mắc tim bẩm sinh phức tạp

Các bác sỹ Bệnh viện Nhi Trung ương đã thực hiện thành công ca thay van động mạch phổi qua da cho bệnh nhi L.V, 14 tuổi, quê Nghệ An, mắc tim bẩm sinh phức tạp. Chỉ sau khoảng 2 giờ can thiệp, bệnh nhi tỉnh táo, được cai máy thở sau 30 phút và không phải trải qua cuộc phẫu thuật tim mở với đường cưa xương ức lần thứ hai. Sau vài ngày, trẻ có thể sinh hoạt bình thường, không còn khó thở hay mệt mỏi.

Gia đình bệnh nhi cho biết trước đó từng được cảnh báo khả năng phải phẫu thuật lại để thay van động mạch phổi. Ý nghĩ con phải tiếp tục cưa xương ức khiến gia đình lo lắng kéo dài. Việc áp dụng kỹ thuật can thiệp qua da giúp tránh một cuộc đại phẫu, giảm đáng kể áp lực tâm lý cho người bệnh và gia đình.

Bệnh nhi mắc Tứ chứng Fallot và đã được phẫu thuật sửa chữa toàn bộ khi mới 1,5 tuổi. Sau can thiệp, trẻ phát triển ổn định và được theo dõi định kỳ. Tuy nhiên, sau 13 năm, van động mạch phổi suy giảm theo tiến triển tự nhiên của cơ thể.

Thời gian gần đây, bệnh nhi xuất hiện đau ngực, khó thở, mệt mỏi, thậm chí từng ngất. Kết quả siêu âm tim và chụp cộng hưởng từ cho thấy tình trạng hở nặng van động mạch phổi, gây trào ngược máu về thất phải và cần can thiệp thay van.

Trước tình trạng này, các bác sỹ cân nhắc hai phương án điều trị gồm phẫu thuật tim mở và thay van qua da. Phẫu thuật tim mở là phương pháp kinh điển, chi phí thấp hơn nhưng là một cuộc đại phẫu phức tạp, cần cưa xương ức, dừng tim tạm thời và bóc tách mô sẹo từ lần mổ trước, tiềm ẩn nguy cơ chảy máu, biến chứng và kéo dài thời gian hồi phục.

Trong khi đó, thay van qua da sử dụng van tim nhân tạo gắn trên khung kim loại, đưa vào cơ thể qua mạch máu đùi bằng ống thông, di chuyển đến vị trí van bị tổn thương và bung ra hoạt động như van tự nhiên, giúp tránh cuộc mổ lớn lần hai.

Dù là kỹ thuật ít xâm lấn, ca bệnh vẫn tiềm ẩn nguy cơ cao do động mạch vành trái của bệnh nhi nằm rất gần động mạch phổi. Theo TS. Cao Việt Tùng, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, nguy cơ lớn nhất là van nhân tạo sau khi triển khai có thể chèn ép động mạch vành, gây thiếu máu cơ tim cấp, đe dọa tính mạng ngay trong quá trình can thiệp.

Để kiểm soát rủi ro, ê kíp đã hội chẩn với các chuyên gia đến từ Đại học Quốc gia Seoul và tổ chức Children’s Heartlink. Đồng thời, các bác sỹ ứng dụng công nghệ thực tế ảo từ dữ liệu chụp cắt lớp vi tính đa dãy để dựng mô hình 3D của tâm thất phải và động mạch phổi. Mô hình này cho phép đánh giá chính xác cấu trúc giải phẫu, xác định vị trí đặt van an toàn và lựa chọn kích thước phù hợp với bệnh nhi.

Ca can thiệp được tiến hành trong khoảng 2 giờ. Van động mạch phổi được đưa qua tĩnh mạch đùi dưới hướng dẫn của hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền kết hợp công nghệ định vị đường đi, bảo đảm độ chính xác cao. Van nhân tạo bung ra ngay tại vị trí cần thiết, hoạt động hiệu quả và không gây chèn ép động mạch vành.

Sau can thiệp, bệnh nhi tỉnh nhanh, được rút ống nội khí quản chỉ sau 30 phút. Hiện tại, sức khỏe ổn định, không còn khó thở hay tức ngực. Kết quả siêu âm tim cho thấy van hoạt động tốt, không ghi nhận biến chứng.

Thay van động mạch phổi qua da được đánh giá là xu hướng điều trị hiện đại, góp phần giảm gánh nặng phẫu thuật lặp lại cho các bệnh nhân đã từng mổ tim từ nhỏ. Thành công của ca can thiệp cho thấy hiệu quả của việc kết hợp kinh nghiệm lâm sàng, hội chẩn quốc tế và ứng dụng công nghệ hình ảnh tiên tiến trong cá thể hóa điều trị, qua đó rút ngắn thời gian hồi phục và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.

Tứ chứng Fallot là dị tật tim bẩm sinh phức tạp gồm bốn bất thường về cấu trúc tim, thường gây tình trạng thiếu oxy kéo dài, khiến trẻ tím tái, mệt mỏi và chậm phát triển. Bệnh cần được phẫu thuật sớm để tránh biến chứng nặng hoặc tử vong.

Mỗi năm, Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện khoảng 100 ca phẫu thuật cho bệnh nhân mắc bệnh này. Nhưng, ngay cả sau phẫu thuật sửa chữa toàn bộ, người bệnh vẫn có thể đối mặt với các vấn đề lâu dài như hở van động mạch phổi, suy chức năng thất phải, rối loạn nhịp tim hoặc tồn lưu các bất thường cấu trúc tim.

Đột quỵ 2 lần liên tiếp trong 5 ngày do mảng xơ vữa động mạch cảnh

Bà Hân đột ngột yếu nửa người phải và được đưa đến viện trong vòng 2 giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng. Êkíp đã lập tức kích hoạt quy trình Code Stroke để xử trí nhanh.

Kết quả chụp MRI ghi nhận bệnh nhân bị nhồi máu não bán cầu trái. Các bác sỹ tiến hành tiêu sợi huyết nhằm tái thông mạch máu não bị tắc, đồng thời theo dõi sát các chỉ số sinh tồn trước khi chuyển người bệnh sang cơ sở Tân Bình tiếp tục điều trị.

Để xác định nguyên nhân, êkíp thực hiện các xét nghiệm và siêu âm tầm soát, phát hiện bệnh nhân bị hẹp 70% gốc động mạch cảnh trong trái, một trong bốn mạch máu chính vận chuyển oxy lên não.

Theo bác sỹ trực tiếp thăm khám, tình trạng hẹp động mạch cảnh mức độ này kèm nhồi máu não cùng bên có chỉ định phẫu thuật, do nguy cơ tái phát đột quỵ rất cao. Tuy nhiên, nếu can thiệp sớm có thể gây chuyển dạng xuất huyết não, dẫn đến di chứng nặng nề.

Trước nguy cơ đó, êkíp đa chuyên khoa quyết định điều trị nội khoa tối ưu, kết hợp phục hồi chức năng và theo dõi sát để lựa chọn thời điểm phẫu thuật phù hợp. Tuy nhiên, đến ngày thứ 5, bệnh nhân tái phát nhồi máu não bán cầu trái tại vị trí khác.

Các bác sỹ nhận định nhiều khả năng mảng xơ vữa không ổn định ở động mạch cảnh đã bong ra, theo dòng máu lên não gây đột quỵ lần thứ hai. Đây là tình trạng hiếm gặp, làm tăng nguy cơ tàn tật và tử vong do tổn thương não tích lũy.

Sau khi điều chỉnh phác đồ điều trị và khi tình trạng ổn định, êkíp tiến hành phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh. Trước mổ, bệnh nhân được xử trí tình trạng dị ứng thuốc cản quang và chụp CT khảo sát, phát hiện thêm một túi phình nhỏ ở động mạch cảnh bên phải.

Ths.Nguyễn Hồng Vinh, chuyên khoa Ngoại Tim mạch, cho biết túi phình này chưa cần can thiệp nhưng tiềm ẩn nguy cơ vỡ trong quá trình phẫu thuật.

Thông thường, khi kẹp động mạch cảnh, bác sỹ sẽ nâng huyết áp để đảm bảo tưới máu não, tuy nhiên trong trường hợp này, việc tăng huyết áp có thể làm vỡ túi phình. Vì vậy, êkíp đã đặt ống dẫn lưu để duy trì dòng máu lên não trái, đồng thời theo dõi huyết áp xâm lấn và chỉ số oxy não để kiểm soát tối ưu trong suốt ca mổ.

Ca phẫu thuật kéo dài 90 phút, các bác sỹ đã bóc tách hoàn toàn mảng xơ vữa và sử dụng miếng vá mạch máu chuyên dụng để mở rộng lòng mạch, khơi thông dòng máu lên não. Sau 24 giờ, bệnh nhân không xuất hiện biến chứng như rối loạn ý thức, đau đầu, nôn ói, méo miệng hay yếu liệt. Ba ngày sau, bà phục hồi hoàn toàn chức năng vận động và ngôn ngữ, được xuất viện và tiếp tục tập phục hồi chức năng theo hướng dẫn.

Theo các bác sỹ, hẹp động mạch cảnh là tình trạng thành mạch dày lên do mảng xơ vữa, làm hẹp dần lòng mạch. Khi mảng xơ vữa nứt vỡ hoặc gây tắc nghẽn, dòng máu lên não bị cản trở, dẫn đến đột quỵ nhồi máu não. Các yếu tố nguy cơ gồm rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, béo phì và ít vận động.

Các chuyên gia khuyến cáo, khi thấy các dấu hiệu như tê yếu nửa người, nói khó, nuốt khó, méo miệng, đau đầu dữ dội hoặc nhìn đôi, cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế có chuyên khoa đột quỵ. Trong thời gian chờ cấp cứu, nên đặt bệnh nhân nằm nghiêng 30-45 độ, nới lỏng quần áo. Nếu có đờm gây khó thở, có thể hỗ trợ lấy đờm bằng khăn sạch. Trường hợp co giật, cần đặt vật mềm giữa hai hàm để tránh cắn lưỡi.

Đặc biệt, việc ghi nhớ thời điểm xuất hiện triệu chứng có ý nghĩa quan trọng trong điều trị. Trong vòng 4,5 giờ đầu sau đột quỵ là “thời gian vàng” để sử dụng thuốc tiêu sợi huyết, giúp hạn chế tổn thương não. Nếu nhập viện muộn hơn, các phương pháp can thiệp mạch hoặc phẫu thuật sẽ được cân nhắc áp dụng.

Tin liên quan
Tin khác