Từ ngày 1/3/2026, Luật Đầu tư 2025 chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong khung khổ pháp lý về đầu tư tại Việt Nam.
Trao đổi với phóng viên Baodautu.vn, TS. Bùi Quý Thuấn, Trưởng ban Nghiên cứu tổng hợp VIPFA nhận định: “Luật Đầu tư 2025 thể hiện tư duy chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm điều kiện kinh doanh mang tính hình thức, đồng thời phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp quyết định. Đây là bước tiến quan trọng để nâng cao chất lượng môi trường đầu tư và tính cạnh tranh quốc gia”.
| Luật Đầu tư 2025 cho phép nhà đầu tư lựa chọn thủ tục đầu tư đặc biệt đối với dự án tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế (trừ trường hợp phải chấp thuận chủ trương đầu tư) |
Cắt giảm đáng kể ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Luật Đầu tư đã cắt giảm, thu hẹp phạm vi nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện so với Luật Đầu tư 2020.
Theo Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025, một số ngành nghề được loại khỏi danh mục hoặc điều chỉnh gồm: kinh doanh làm thủ tục thuế, dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, cho thuê lại lao động; giám định thương mại; tạm nhập tái xuất thực phẩm đông lạnh; tạm nhập tái xuất hàng đã qua sử dụng…
Như vậy, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện chỉ còn 198 ngành, tức bãi bỏ 38 ngành không còn yêu cầu điều kiện kinh doanh so với trước.
Đáng chú ý, Điều 7 quy định Chính phủ công bố danh mục ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, cấp chứng nhận trước khi hoạt động và danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý từ tiền kiểm (cấp phép, chứng nhận) sang hậu kiểm (công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh).
Tuy nhiên, thời điểm hiệu lực của quy định này sẽ từ ngày 1/7/2026.
Nhà đầu tư nước ngoài không phải có dự án trước khi thành lập doanh nghiệp
Khoản 2 Điều 19 cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế trước, sau đó mới thực hiện thủ tục cấp hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với điều kiện đáp ứng quy định về tiếp cận thị trường.
So với Luật 2020, cụ thể khoản 1 Điều 22 được được sửa đổi bởi Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Hải quan, Luật Thuế giá trị gia tăng, quy định cũ yêu cầu phải có dự án trước rồi mới được thành lập doanh nghiệp. Theo TS. Bùi Quý Thuấn, “trình tự này giúp rút ngắn đáng kể thời gian gia nhập thị trường, tiệm cận thông lệ quốc tế”.
Làm rõ 20 nhóm dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư
Điều 24 liệt kê cụ thể 20 loại dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thay vì quy định theo thẩm quyền như trước đây.
Các nhóm dự án bao gồm:
- Dự án sử dụng đất, tài nguyên lớn hoặc nhạy cảm: chuyển mục đích sử dụng rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) với diện tích lớn; chuyển đất trồng lúa từ 500 ha trở lên; dự án có di dân tái định cư quy mô lớn; dự án tại khu vực ảnh hưởng quốc phòng, an ninh; dự án đề nghị giao khu vực biển.
- Dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm: điện hạt nhân; casino, đặt cược; chế biến dầu khí; kinh doanh vận chuyển hàng không; viễn thông có hạ tầng mạng, trồng rừng, xuất bản, báo chí do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện.
- Dự án liên quan di sản, đô thị đặc thù: dự án trong khu vực bảo vệ di tích quốc gia, di sản thế giới; dự án tại khu vực hạn chế phát triển hoặc nội đô lịch sử của đô thị loại đặc biệt.
- Dự án hạ tầng, bất động sản quy mô lớn: xây dựng nhà ở, khu đô thị (khi nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất); sân gôn; khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ số; cảng biển lớn; cảng hàng không, sân bay và hạ tầng hàng không quan trọng.
- Dự án có yêu cầu đặc biệt: đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (trừ một số trường hợp được loại trừ); dự án cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù khác luật; các dự án khác thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ theo quy định pháp luật.
Về thẩm quyền, Điều 25 Luật 2025 quy định Quốc hội chỉ xem xét dự án cần cơ chế đặc biệt; Thủ tướng quyết định 8 nhóm; Chủ tịch UBND cấp tỉnh (thay vì UBND tỉnh) quyết định 13 nhóm dự án.
Bỏ hai trường hợp phải điều chỉnh chủ trương đầu tư
Luật Đầu tư 2025 chỉ giữ lại 5 trường hợp doanh nghiệp phải điều chỉnh chủ trương đầu tư. Quy định mới đã đơn giản hoá thủ tục, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, tránh việc điều chỉnh nhỏ cũng phải điều chỉnh chủ trương đầu tư.
5 trường hợp hải điều chỉnh chủ trương đầu tư gồm:
- Thay đổi, bổ sung nội dung, mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư;
- Thay đổi quy mô diện tích đất sử dụng theo quy định của Chính phủ, thay đổi địa điểm đầu tư;
- Kéo dài tiến độ thực hiện dự án đầu tư trong trường hợp điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng theo quy định tại khoản 4 Điều này;
- Điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư;
- Thay đổi nhà đầu tư của dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trước khi dự án khai thác, vận hành hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có).
So với Luật Đầu tư 2020, Điều 33 Luật Đầu tư 2025 đã bỏ 2 trường hợp điều chỉnh dự án đầu tư là thay đổi tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên và thay đổi công nghệ đã được thẩm định.
Việc loại bỏ các trường hợp điều chỉnh mang tính kỹ thuật giúp doanh nghiệp tránh thủ tục lặp lại không cần thiết, đặc biệt với các dự án có biến động vốn trong quá trình triển khai, TS. Thuấn phân tích.
Mở rộng áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt
Điều 28, Luật Đầu tư 2025 cho phép nhà đầu tư lựa chọn thủ tục đầu tư đặc biệt đối với dự án tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế (trừ trường hợp phải chấp thuận chủ trương đầu tư).
Dự án theo thủ tục này không phải thực hiện hàng loạt bước như: chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, báo cáo đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết, cấp phép xây dựng, phòng cháy chữa cháy…
Thay vào đó là cơ chế cam kết tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn pháp luật.
Linh hoạt điều chỉnh thời hạn hoạt động dự án
Luật giữ nguyên trần 50 năm (ngoài khu kinh tế) và 70 năm (trong khu kinh tế), nhưng cho phép nhà đầu tư chủ động điều chỉnh tăng hoặc giảm thời hạn hoạt động trong quá trình thực hiện dự án.
Quy định cũ chỉ cho phép gia hạn khi sắp hết thời hạn. Điểm mới này tạo dư địa xử lý các tình huống tái cấu trúc tài chính, chuyển nhượng hoặc thay đổi chiến lược kinh doanh.
Ngoài ra, tại khoản 6 Điều 52 cho phép dự án đang triển khai trước ngày luật có hiệu lực được điều chỉnh thời hạn nếu thời hạn còn lại không đáp ứng được phương án tài chính hoặc phương án kinh doanh của bên nhận chuyển nhượng.
Bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài
Luật mới bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài từng thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Thủ tướng.
Theo Điều 42, chỉ dự án có quy mô vốn vượt ngưỡng do Chính phủ quy định hoặc thuộc ngành nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện mới phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể chỉ áp dụng với dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc dự án đầu tư có lĩnh vực thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật này.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tài chính phân cấp thẩm quyền cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho tổ chức thuộc Bộ.
Các dự án còn lại chỉ cần đăng ký giao dịch ngoại hối với Ngân hàng Nhà nước để chuyển tiền.
Mở rộng phạm vi chuyển nhượng dự án đầu tư
Khoản 7 Điều 51 mở rộng đối tượng được chuyển nhượng dự án đầu tư. Tất cả dự án đã được quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, hoặc đã được cấp/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đều có thể thực hiện chuyển nhượng theo quy định.
Trước đây, theo Luật Kinh doanh bất động sản 2023, chỉ một số dự án đủ điều kiện nhất định mới được áp dụng thủ tục này.