| Quang cảnh Diễn đàn Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh, do Viện chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh (BCSI) tổ chức sáng 23/9/2026. Ảnh: Hồng Hạnh. |
Khi công nghệ mạnh nhưng thương hiệu yếu
Với 405,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu năm 2024, Việt Nam đã có vị trí đáng kể trong thương mại toàn cầu. Nhóm điện tử, máy tính và linh kiện đạt 72,5 tỷ USD; điện thoại và linh kiện đạt 53,8 tỷ USD. Quy mô ấy đặt ra câu hỏi: nền kinh tế giữ lại bao nhiêu giá trị?
Tại Diễn đàn Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh, do Viện chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh (BCSI) tổ chức sáng 23/9/2026 tại Hà Nội, TS. Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra rằng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 290,9 tỷ USD, tương đương 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024. Quy mô sản xuất công nghệ cao của Việt Nam đã tăng mạnh, nhưng hoạt động vẫn chủ yếu tập trung ở khâu lắp ráp; năng lực thiết kế và làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế.
Khoảng cách giữa giá trị hàng hóa đi qua biên giới và giá trị nền kinh tế giữ lại chính là điểm nghẽn cần được nhìn thẳng. Nếu doanh nghiệp không sở hữu thiết kế, sáng chế, nhãn hiệu hay hệ thống phân phối, phần lợi nhuận lớn vẫn thuộc về những chủ thể nắm giữ tài sản vô hình.
Theo TS. Trần Lê Hồng, đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ, giá trị thương hiệu và lợi thế cạnh tranh quốc gia vận hành trong một hệ thống có trật tự nhân quả cùng các vòng phản hồi. Thiếu một mắt xích, ba yếu tố còn lại khó chuyển hóa thành thu nhập.
Đổi mới sáng tạo chỉ tích lũy thành năng lực công nghệ khi được duy trì liên tục và hình thành từ bên trong doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu và phát triển đứt quãng, hoặc thuê ngoài hoàn toàn quá trình tạo ra sản phẩm, khó tạo nền tảng bền vững. Năng lực ấy phải được chuyển thành chất lượng ổn định và khác biệt có thể kiểm chứng. Nếu doanh nghiệp không truyền đạt được khác biệt tới người mua và không bảo hộ dấu hiệu nhận diện, công nghệ tốt vẫn có thể nằm sau thương hiệu của đơn vị khác.
| Các khâu nghiên cứu và phát triển, công nghệ, thương hiệu, thiết kế, phân phối, tiếp thị và dịch vụ tạo giá trị gia tăng cao hơn, trong khi sản xuất nằm ở đáy của chuỗi giá trị. Nguồn: Tham luận của TS. Trần Lê Hồng. |
TS. Trần Lê Hồng gọi đây là “bẫy nhà cung cấp ẩn danh”, trạng thái doanh nghiệp tạo ra giá trị lớn nhưng phụ thuộc vào một số khách hàng và khó giành quyền định giá. Ông nhận định: “Trường hợp công nghệ mạnh, thương hiệu yếu giải thích vì sao một nền kinh tế có thể xuất khẩu hàng trăm tỷ USD sản phẩm công nghệ cao mà thu nhập đầu người vẫn ở mức trung bình: giá trị được tạo ra nhưng không được giữ lại”.
Ngược lại, trường hợp Nokia sau năm 2007 hay Kodak cho thấy vốn danh tiếng sẽ bị bào mòn khi doanh nghiệp không theo kịp công nghệ. Thương hiệu phải được bảo chứng bằng năng lực sản xuất, đổi mới và cung ứng có thể kiểm chứng.
Chuỗi giá trị iPhone 4 và iPad là minh họa rõ nét. Nghiên cứu của Kraemer, Linden và Dedrick năm 2011, được dẫn lại trong Báo cáo Sở hữu trí tuệ thế giới 2017 của WIPO, cho thấy Apple giữ khoảng 58% giá bán lẻ iPhone dưới dạng lợi nhuận gộp, trong khi chi phí lao động lắp ráp tại Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 1,8%. Phần chênh lệch nằm ở nghiên cứu, công nghệ, thiết kế, thương hiệu và tiếp thị.
Ngành cà phê cũng cho thấy sự phân chia giá trị chênh lệch. Trước năm 1989, các nước trồng cà phê giữ khoảng 20% thu nhập bán lẻ, còn các nước nhập khẩu giữ 55%. Sau khi Hiệp định Cà phê quốc tế chấm dứt cơ chế hạn ngạch, tỷ lệ này chuyển thành 13% và 78%.
Hơn 90% sáng chế liên quan tới cà phê tập trung ở khâu chế biến và phân phối; số đơn đăng ký nhãn hiệu tăng gấp ba lần trong giai đoạn 2000 đến 2016. Tài nguyên và năng lực sản xuất mới là điểm xuất phát; sở hữu trí tuệ, thương hiệu cùng mạng lưới phân phối quyết định ai nắm phần giá trị lớn hơn.
Trong tham luận tại Diễn đàn, bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương nhấn mạnh, trong bối cảnh hội nhập, niềm tin và năng lực cung ứng quan trọng hơn độ nhận diện đơn thuần. “Thương hiệu quốc gia chỉ thực sự trở thành nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh khi được xây dựng trên năng lực thực chất của doanh nghiệp và được chuyển hóa thành niềm tin của thị trường”, bà Hà Kiều Oanh khẳng định.
Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đặt trọng tâm vào chất lượng, đổi mới sáng tạo và năng lực tiên phong. Kỳ xét chọn lần thứ 10 có 499 sản phẩm của 227 doanh nghiệp được công nhận. Danh hiệu cần thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ và bảo vệ tài sản thương hiệu.
| Kỳ xét chọn lần thứ 10 của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam ghi nhận 499 sản phẩm đạt chuẩn và 227 doanh nghiệp được công nhận. Nguồn: Tham luận của bà Hà Kiều Oanh. |
Từ năng lực sản xuất đến quyền định giá
Bức tranh Việt Nam cho thấy một nghịch lý. Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu, dù chi cho nghiên cứu và phát triển mới khoảng 0,5% GDP. Đầu ra cao hơn đáng kể so với đầu vào cho thấy khả năng tận dụng nguồn lực, nhưng dư địa phát triển sẽ bị giới hạn nếu nền tảng nghiên cứu không được bồi đắp.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP vào năm 2030, trong đó hơn 60% đến từ xã hội; ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm được dành cho khoa học và công nghệ. Theo TS. Trần Lê Hồng, cần đưa mục tiêu này về đúng cấu trúc nguồn vốn, chấp nhận độ trễ và bảo đảm tính liên tục của chính sách.
Ông cũng đề xuất chuyển trọng tâm ưu đãi FDI từ thu hút sang liên kết, gắn ưu đãi cao nhất với chuyển giao thực chất và hoạt động nghiên cứu, phát triển tại chỗ. Doanh nghiệp trong nước cần được nâng cao năng lực hấp thụ trước khi kỳ vọng vào những đổi mới đột phá. Nếu thiếu đội ngũ kỹ thuật, quản trị, tiêu chuẩn và nền tảng nghiên cứu, sự hiện diện của tập đoàn công nghệ quốc tế chưa chắc tự động tạo ra quá trình lan tỏa.
Thước đo mới của thu hút đầu tư cần vượt khỏi số vốn đăng ký và kim ngạch xuất khẩu. Điều quan trọng hơn là số doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, hoạt động R&D tại Việt Nam và lượng tài sản trí tuệ được tạo lập.
Trong cách tiếp cận này, sở hữu trí tuệ phải được coi là hạ tầng kinh tế thay vì thủ tục hành chính. Khi sáng chế, nhãn hiệu, dữ liệu và thiết kế thuộc về doanh nghiệp Việt, năng lực sản xuất mới có cơ hội chuyển thành biên lợi nhuận và quyền định giá.
Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam được định giá 507 tỷ USD năm 2024, xếp thứ 32 trong 193 quốc gia. Tổng giá trị 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam đạt khoảng 43 tỷ USD năm 2026, vẫn chưa bằng một nửa giá trị thương hiệu Samsung, theo tham luận của TS. Trần Lê Hồng. Thương hiệu quốc gia đang tăng nhanh hơn nền tảng thương hiệu doanh nghiệp.
Ở góc độ quản trị, ông Tô Hải Thiên, Giám đốc Công nghệ IOT Communication cho rằng thị trường không thiếu thông tin, điều nhà quản lý cần là dữ liệu được chắt lọc và có giá trị hành động đúng thời điểm. Các công cụ AI còn tạo ra rủi ro mới khi khách hàng, đối tác và nhà đầu tư tham khảo cách ChatGPT hay Gemini mô tả doanh nghiệp. Thông tin cũ hoặc sai lệch có thể ảnh hưởng tới quyết định hợp tác.
Theo ông Tô Hải Thiên, khoảng cách giữa điều doanh nghiệp muốn thể hiện và cảm nhận thực tế của xã hội tiềm ẩn rủi ro cùng sự thất thoát chi phí. “Sức mạnh không nằm ở ai đọc được nhiều báo cáo hơn, mà nằm ở độ chính xác, sự hội tụ và tính thời điểm của thông tin được sử dụng”, ông nói.
Trong khi đó, báo cáo Mega Trends & Strategic Foresight 2026 do TS. Đoàn Đức Thuận, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh giới thiệu đặt vấn đề xây dựng năng lực dự báo chiến lược. Thay vì lập kế hoạch trên một tương lai và một con số, doanh nghiệp cần chuẩn bị nhiều kịch bản đi kèm chỉ báo. Tầm nhìn xa chỉ tạo ra giá trị khi giúp tổ chức hành động nhanh và nâng cao khả năng ứng biến.
Từ kinh tế trải nghiệm, TS. Vũ Hương Giang, Trưởng Bộ môn Quản trị Du lịch Khách sạn, Khoa Du lịch, Trường Đại học Mở Hà Nội cũng chỉ ra rằng tạo ra giá trị và giữ lại giá trị là hai vấn đề khác nhau. Một điểm đến đông khách chưa chắc mang lại lợi ích tương xứng cho địa phương. Tương tự, xuất khẩu lớn chưa bảo đảm thu nhập cao nếu các khâu tạo lợi nhuận nằm ngoài nền kinh tế.
Thoát khỏi “bẫy nhà cung cấp ẩn danh” vì thế không đồng nghĩa từ bỏ lợi thế sản xuất hay vai trò của khu vực FDI. Việt Nam cần sử dụng chính nền tảng sản xuất đã hình thành để tiến dần lên những khâu có giá trị cao hơn, từ nghiên cứu, thiết kế, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ đến thương hiệu và phân phối. Khi doanh nghiệp có công nghệ đủ mạnh, thương hiệu đủ tin cậy và năng lực dự báo đủ xa, xuất khẩu mới thực sự chuyển hóa thành sức cạnh tranh và thu nhập bền vững.