| Xuất khẩu nông sản khởi sắc, nhưng doanh nghiệp vẫn đang căng mình vượt qua các rào cản kỹ thuật và thương mại quốc tế (Ảnh: P.V) |
Xuất khẩu tăng nhưng áp lực bủa vây
Trong khi ngành rau quả được kỳ vọng trở thành một trong những “đầu tàu” tăng trưởng xuất khẩu của nông nghiệp Việt Nam năm 2026, thì ngay ở mặt hàng chủ lực như sầu riêng, nhiều áp lực mới đã bắt đầu bộc lộ rõ.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện cho biết, ngành hàng sầu riêng của địa phương đang chịu sức ép lớn khi các thị trường nhập khẩu, siết chặt tiêu chuẩn về dư lượng cadimi.
Theo ông Thiện, nguyên nhân xuất phát từ tập quán canh tác kéo dài nhiều năm khiến đất bị thoái hóa và tồn dư kim loại nặng, trong khi các tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng được nâng cao.
Không chỉ đối mặt với áp lực về chất lượng, hoạt động xuất khẩu sầu riêng hiện còn gặp khó ở khâu kiểm nghiệm. Theo phản ánh của doanh nghiệp và địa phương, hệ thống phòng kiểm nghiệm thời gian gần đây luôn trong tình trạng quá tải, khiến thời gian chờ kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến độ tươi ngon của sản phẩm cũng như tiến độ giao hàng.
- Ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Hiện các lô sầu riêng xuất khẩu đều phải được kiểm nghiệm và cấp giấy chứng nhận đạt yêu cầu trước khi thông quan. Tuy nhiên, trong bối cảnh lượng hàng xuất sang Trung Quốc tăng mạnh, số cơ sở kiểm nghiệm đủ điều kiện vẫn còn hạn chế.
“Có nơi chưa đủ năng lực thực hiện, có đơn vị phải từ chối nhận mẫu. Năng lực kiểm nghiệm hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, dẫn đến tình trạng ùn ứ hàng hóa”, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT Vina T&T cho biết.
Những khó khăn của ngành sầu riêng phần nào phản ánh sức ép ngày càng lớn, mà ngành rau quả đang phải đối mặt, dù đây vẫn là một trong những lĩnh vực tăng trưởng tích cực nhất của nông nghiệp Việt Nam thời gian qua.
Theo ông Nguyễn Đình Tùng, trong 4 tháng đầu năm 2026, ngành rau quả đạt kim ngạch khoảng 2,06 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Riêng thị trường Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi chiếm hơn 50% thị phần với kim ngạch trên 1 tỷ USD. Bên cạnh đó, các thị trường khó tính như Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản vẫn duy trì mức tăng trưởng từ
15 - 20%.
Đặc biệt, việc ký kết nghị định thư xuất khẩu đối với quả bưởi và chanh được xem là cú hích mở rộng dư địa cho nông sản Việt Nam. Cùng với đó, xu hướng chuyển dịch từ xuất khẩu tươi sang chế biến sâu như đông lạnh, sấy khô và nước quả cô đặc đang mở thêm kỳ vọng để ngành rau quả hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD trong năm nay.
Dù vậy, theo ông Tùng, tăng trưởng của ngành rau quả hiện chưa thực sự bền vững khi hàng loạt “nút thắt” vẫn chưa được tháo gỡ.
Áp lực đầu tiên đến từ logistics trong bối cảnh địa chính trị thế giới biến động khiến giá cước vận tải tăng gấp 2 - 3 lần so với giai đoạn 2024 - 2025. Trong khi đó, hệ thống kho lạnh tại các vùng nguyên liệu vẫn thiếu, làm gia tăng chi phí và tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch.
Ngoài sầu riêng, nhiều mặt hàng xuất khẩu như thanh long, chanh leo và ớt liên tục nhận cảnh báo vi phạm quy định an toàn thực phẩm tại các thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Các tiêu chuẩn kỹ thuật cùng hàng rào phi thuế quan ngày càng dày đặc đang tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp
xuất khẩu.
Không chỉ rau quả, những sức ép từ thị trường quốc tế cũng đang lan rộng sang nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực khác của
nông nghiệp Việt Nam.
“Khi hoạt động xuất khẩu bước vào quý II/2026 với nhiều tín hiệu phục hồi, cộng đồng doanh nghiệp thủy sản lại phải đối mặt đồng thời với nhiều sức ép mới từ thị trường quốc tế”, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) chia sẻ.
Theo ông Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt khoảng 3,7 tỷ USD, tăng gần 15% so với cùng kỳ. Đây được xem là tín hiệu phục hồi đáng chú ý sau giai đoạn thị trường toàn cầu suy giảm mạnh.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng này là khoảng 15 nhóm khó khăn, mà doanh nghiệp thủy sản đang phải đối mặt, từ thiếu nguyên liệu, thiếu lao động đến những quy định ngày càng chặt chẽ liên quan đến chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Ở nhóm lúa gạo, áp lực thị trường cũng hiện hữu rõ nét dù sản lượng xuất khẩu vẫn duy trì ở mức cao. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,33 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD. Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất với khoảng 1,5 triệu tấn. Song ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Intimex cho biết, giá gạo xuất khẩu bình quân hiện chỉ còn khoảng 468 USD/tấn, giảm gần 10% so với năm 2025 và xuống mức thấp nhất trong khoảng 5 năm trở lại đây.
Theo ông Nam, điểm yếu lớn nhất của ngành lúa gạo hiện nay là khả năng điều tiết thị trường còn hạn chế. Chỉ cần xuất hiện thông tin Philippines giảm nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp lập tức bán hàng để giữ thị phần và giải phóng tồn kho, kéo mặt bằng giá xuống thấp.
Những khó khăn mà doanh nghiệp thủy sản, rau quả và lúa gạo đang đối mặt phản ánh bức tranh chung của toàn ngành nông nghiệp. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dù nhiều ngành hàng vẫn duy trì tăng trưởng tích cực nhưng kết quả chưa đồng đều giữa các lĩnh vực.
Doanh nghiệp đồng loạt kiến nghị gỡ điểm nghẽn
Trong bối cảnh thị trường toàn cầu liên tục biến động, nhiều doanh nghiệp cho rằng, bài toán của xuất khẩu nông sản Việt Nam hiện nay không còn đơn thuần là mở rộng sản lượng, mà là nâng cao sức chống chịu của toàn chuỗi ngành hàng trước các rào cản thương mại, chi phí logistics và tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe.
Từ thực tế đó, cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng đang đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững hơn trong giai đoạn tới.
Ông Nguyễn Hoài Nam cho biết, ngành thủy sản vẫn còn dư địa để đạt mục tiêu tăng trưởng 8 - 10% và kim ngạch xuất khẩu trên 12 tỷ USD trong năm 2026. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp cần được hỗ trợ kịp thời về thể chế, tín dụng, logistics và xử lý các rào cản thương mại quốc tế. Theo ông Nam, một trong những vướng mắc lớn hiện nay nằm ở thủ tục chứng nhận nguồn gốc hải sản khai thác phục vụ xuất khẩu sang EU và Mỹ. Vì vậy, VASEP kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm sửa đổi Thông tư 81/2025 và Thông tư 74/2025 nhằm tháo gỡ các bất cập liên quan đến chứng nhận C/C, C/S và CoA. Đồng thời, hiệp hội cũng đề xuất thành lập Quỹ xúc tiến xuất khẩu ngành hàng để hỗ trợ các lĩnh vực đang chịu áp lực lớn về chi phí và thị trường tiêu thụ.
Tương tự ngành thủy sản, các doanh nghiệp rau quả cho rằng, muốn duy trì đà tăng trưởng thì phải giải quyết dứt điểm những “điểm nghẽn” tồn tại nhiều năm.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đình Tùng nhận định, để hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD, ngành rau quả cần triển khai đồng thời các giải pháp cấp bách và dài hạn. Trước mắt, cơ quan chức năng cần tăng cường hậu kiểm mã số vùng trồng, xử lý nghiêm các trường hợp gian lận nhằm bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam, đồng thời đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường cho các loại trái cây
tiềm năng.
Về dài hạn, ông Tùng đề xuất có chính sách thu hút các tập đoàn lớn đầu tư nhà máy chế biến sâu tại vùng nguyên liệu, đồng thời củng cố mô hình liên kết “5 nhà” gồm Nhà nước, nhà nông, doanh nghiệp, nhà khoa học và ngân hàng.
Liên quan đến ngành sầu riêng, tỉnh Đồng Tháp kiến nghị Chính phủ cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm phê duyệt đề án thành lập các trung tâm khuyến nông tích hợp chức năng kiểm mẫu đất định kỳ và hỗ trợ cải tạo đất cho nông dân. Theo địa phương này, nếu không có giải pháp căn cơ về chất lượng đất và quy trình canh tác, nguy cơ bị siết chặt tiêu chuẩn từ các thị trường nhập khẩu sẽ còn tiếp diễn.
Đồng thời, Đồng Tháp cũng đề xuất đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua xây dựng nền tảng quản lý mã số vùng trồng nhằm tăng tính minh bạch và giảm rủi ro cho hoạt động xuất khẩu.
Trong năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 74,2 tỷ USD, tăng hơn 6% so với năm 2025. Để đạt mục tiêu này, ngành nông nghiệp không chỉ cần tăng sản lượng xuất khẩu mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu thô và xây dựng năng lực thích ứng bền vững cho toàn bộ chuỗi nông sản Việt Nam.
Bộ cũng cho biết, sẽ ưu tiên mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng như ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế, chính sách để tháo gỡ điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng, tận dụng hiệu quả các FTA và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.