Sự phát triển mạnh của thương mại điện tử, logistics và kinh tế số khiến bưu chính không còn chỉ giới hạn ở hoạt động tiếp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi, mà ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, Dự thảo Luật Bưu chính sửa đổi được xây dựng theo hướng tăng phân cấp, giảm tiền kiểm, đẩy mạnh hậu kiểm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và bổ sung các quy định về bưu chính số, dữ liệu bưu chính, định danh bưu gửi và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Đánh giá cao định hướng này, ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Tổng Giám đốc Viettel Post cho rằng, Dự thảo đã có nhiều điểm tiến bộ, tạo hành lang pháp lý phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của ngành trong giai đoạn mới.
Theo ông Dũng, việc bổ sung các quy định về bưu chính số, dữ liệu bưu chính, mã định danh bưu gửi và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, phát triển các mô hình kinh doanh mới. Đồng thời, định danh bưu gửi, định danh người gửi và trách nhiệm cung cấp thông tin sẽ góp phần nâng cao an ninh, an toàn, tạo cơ sở cho quản lý, truy xuất và chia sẻ dữ liệu bưu chính.
Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông Dũng cho rằng một số quy định vẫn cần tiếp tục được rà soát, đặc biệt là các quy định liên quan đến bảo vệ quyền tiếp cận thị trường, dịch vụ bưu chính công ích và chia sẻ hạ tầng.
| Ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Tổng Giám đốc Viettel Post góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Bưu chính sửa đổi. |
Bảo vệ quyền tiếp cận thị trường trong thương mại điện tử
Một đề xuất mới được Viettel Post nêu ra là cần có quy định rõ hơn về bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp bưu chính khi tham gia thị trường, đặc biệt là thị trường thương mại điện tử.
Hiện nay, các sàn thương mại điện tử trung gian đang điều phối, tác động đến hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, dịch vụ logistics trên Sàn thương mại điện tử mà chưa cho phép người mua/người tiêu dùng được tự do lựa chọn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
Viettel Post cho rằng cơ chế này phần nào hạn chế quyền tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp bưu chính, vận chuyển. Do đó, Luật Bưu chính sửa đổi cần nghiên cứu các quy định phù hợp nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng và quyền tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
Đây cũng là vấn đề ngày càng đáng chú ý khi ranh giới giữa bưu chính, logistics và thương mại điện tử đang thay đổi nhanh. Doanh nghiệp bưu chính không còn chỉ thực hiện công đoạn nhận, vận chuyển và phát bưu gửi, mà ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của thương mại điện tử.
| Luật Bưu chính sửa đổi cần nghiên cứu các quy định phù hợp nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng và quyền tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. |
Làm rõ ranh giới giữa các loại hình dịch vụ công ích
Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, vấn đề trước tiên cần làm rõ là phạm vi và mối quan hệ giữa “dịch vụ bưu chính công ích”, “dịch vụ bưu chính phổ cập” và “dịch vụ bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước ”.
“Dự thảo đã đưa ra các khái niệm này nhưng chưa xác định rõ phạm vi và mối quan hệ giữa chúng cũng như với khái niệm chung về dịch vụ bưu chính”, ông Dũng nêu.
Theo ông, đây không chỉ là vấn đề về kỹ thuật lập pháp mà có thể tác động trực tiếp đến quá trình thực thi.
Đáng chú ý, tại Điều 27, Dự thảo quy định dịch vụ bưu chính công ích theo hướng liệt kê các loại hình dịch vụ “bao gồm”. Cách quy định này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau, bởi một dịch vụ được liệt kê trong một khái niệm không đồng nghĩa với việc loại trừ khả năng dịch vụ đó đồng thời thuộc một khái niệm khác.
“Nếu không xác định rõ ranh giới giữa các khái niệm, có thể phát sinh vướng mắc, thậm chí tranh chấp trong quá trình thực hiện”, ông Dũng lưu ý.
Từ đó, Viettel Post đề nghị tiếp tục rà soát và thiết kế lại cách phân định các nhóm dịch vụ theo những tiêu chí rõ ràng, qua đó xác định cụ thể phạm vi, đối tượng và trách nhiệm của từng loại hình dịch vụ.
Cơ quan nhà nước có quyền lựa chọn doanh nghiệp nào?
Một vấn đề khác được Viettel Post đề nghị làm rõ là quy định về dịch vụ gửi hồ sơ, tài liệu của cơ quan nhà nước.
Điểm b khoản 1 Điều 27 của Dự thảo chưa xác định rõ cơ quan nhà nước có được lựa chọn doanh nghiệp bưu chính khác ngoài doanh nghiệp được Nhà nước chỉ định hay không.
“Nếu cơ quan nhà nước lựa chọn doanh nghiệp khác cung cấp dịch vụ thì dịch vụ đó có còn được xác định là dịch vụ bưu chính công ích hay không?”, ông Dũng đặt vấn đề và đề xuất đây là nội dung cần được quy định cụ thể để tránh cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.
Viettel Post đề nghị Luật làm rõ quyền lựa chọn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính của cơ quan nhà nước, đồng thời xác định phạm vi cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp không được Nhà nước chỉ định. Việc quy định rõ nội dung này sẽ giúp xác định minh bạch hơn quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp trong hoạt động cung ứng dịch vụ.
| Viettel Post đề nghị Luật làm rõ quyền lựa chọn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính của cơ quan nhà nước, đồng thời xác định phạm vi cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp không được Nhà nước chỉ định. |
Không nên áp dụng một cơ chế chia sẻ cho mọi loại hạ tầng
Một nhóm vấn đề được ông Dũng đặc biệt lưu ý là cơ chế chia sẻ hạ tầng mạng bưu chính. Theo ông, Dự thảo cần phân biệt rõ hạ tầng mạng bưu chính do doanh nghiệp tự đầu tư, xây dựng và khai thác với mạng bưu chính công cộng do Nhà nước đầu tư và giao doanh nghiệp được chỉ định quản lý, khai thác.
Sự khác biệt về nguồn vốn hình thành hạ tầng, cần được phản ánh trong chính sách quản lý và nghĩa vụ chia sẻ. Đối với hạ tầng do doanh nghiệp tự đầu tư, ông Dũng cho rằng doanh nghiệp phải được bảo đảm quyền tự chủ trong quyết định đầu tư, khai thác và hợp tác kinh doanh.
“Đối với hạ tầng mạng bưu chính do doanh nghiệp tự đầu tư, việc có chia sẻ hạ tầng hay không và lựa chọn đối tác phù hợp để hợp tác về bản chất thuộc quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp”, ông Dũng phân tích.
Vì vậy, theo ông, không nên quy định cứng nguyên tắc “công bằng, hợp lý, không phân biệt đối xử” đối với mọi hoạt động chia sẻ hạ tầng do doanh nghiệp tự đầu tư.
Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp vẫn có thể chủ động thỏa thuận thương mại về việc chia sẻ hạ tầng, nhưng không bị biến nghĩa vụ chia sẻ thành một nghĩa vụ bắt buộc, bất kể điều kiện đầu tư và phương án kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, đối với mạng bưu chính công cộng do Nhà nước đầu tư, cần thiết kế cơ chế chia sẻ theo hướng khác. Đây là hạ tầng được hình thành từ nguồn lực Nhà nước và được giao cho doanh nghiệp được chỉ định quản lý, khai thác để thực hiện các nhiệm vụ công ích. Vì vậy, khi các doanh nghiệp khác có nhu cầu tiếp cận, cần bảo đảm nguyên tắc công bằng, hợp lý và không phân biệt đối xử.
“Đối với mạng bưu chính công cộng do Nhà nước đầu tư, cần bảo đảm việc tiếp cận của các doanh nghiệp theo nguyên tắc công bằng, hợp lý, không phân biệt đối xử”, ông Dũng đề xuất.
Theo ông Dũng, cách tiếp cận này vừa bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực hạ tầng đã được Nhà nước đầu tư.