| Ông Trần Duy Đông, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ trao tặng bằng khen cho lãnh đạo Công ty Honda Việt Nam |
Dấu ấn Honda Việt Nam
Nếu chỉ nhìn vào quy mô thị trường, Honda Việt Nam đã có một hành trình rất thành công.
Năm 2025, hãng bán hơn 2,24 triệu xe máy, tăng 4,6% so với năm trước. Sáu tháng đầu năm 2026, doanh số đạt hơn 1,12 triệu xe, tăng 1,8% so với cùng kỳ.
Sau 30 năm, hơn 40 triệu xe máy Honda đã được bán tại Việt Nam. Đến cuối năm 2025, thị phần của hãng đạt 85,9% trong Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM).
Nhưng nếu chỉ nhìn vào những chiếc xe được bán ra, phần quan trọng hơn của 30 năm Honda ở Việt Nam sẽ bị bỏ qua.
Honda Việt Nam hiện có 3 nhà máy xe máy, 1 nhà máy ô tô, 2 trung tâm đào tạo lái xe an toàn với khoảng 10.000 cán bộ, công nhân viên. Cùng với các dây chuyền lắp ráp là các phân xưởng đúc, bánh răng, piston, trung tâm phụ tùng và hệ thống nhà cung cấp.
Từ năm 2002, Honda Việt Nam bắt đầu xuất khẩu linh kiện, phụ tùng xe máy. Mười năm sau, doanh nghiệp xuất khẩu xe máy nguyên chiếc. Đến cuối năm 2025, gần 2,4 triệu xe máy đã được xuất khẩu, với tổng giá trị xuất khẩu xe và phụ tùng hơn 2,8 tỷ USD.
Từ tháng 2/2026, xe máy điện sản xuất tại Việt Nam cũng bắt đầu được xuất khẩu.
Như vậy, sau ba thập kỷ, Honda Việt Nam không còn đơn thuần là một doanh nghiệp FDI sản xuất cho thị trường trong nước. Nhà máy tại Việt Nam đã tham gia vào mạng lưới sản xuất của Honda Motor, đưa sản phẩm sản xuất tại Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
| Đến cuối năm 2025, Honda Việt Nam đã xuất khẩu gần 2,4 triệu xe máy |
Câu chuyện phía sau tỷ lệ nội địa hóa
Theo các con số thống kê, tỷ lệ nội địa hóa bình quân xe máy của Honda Việt Nam đã vượt 96%.
Con số này thường được nhìn như một chỉ dấu về mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và khu vực doanh nghiệp nội địa. Nhưng với các đoanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ của ngành ô tô, xe máy, đó là hành trình học cách làm việc với một tập đoàn toàn cầu và lớn lên cùng những tiêu chuẩn của “người khổng lồ”.
Cũng phải thừa nhận, cho tới tận thời điểm này, mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn là bài toán khó.
Để trở thành nhà cung ứng cho một tập đoàn toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ có năng lực sản xuất mà cần đáp ứng những yêu cầu rất khắt khe của sản phẩm, gồm chất lượng, độ chính xác, chi phí, tiến độ giao hàng và cả những nguyên tắc, tiêu chuẩn trong quản trị sản xuất.
Nói cách khác, một đơn hàng từ doanh nghiệp FDI có thể trở thành một “bài kiểm tra” đối với năng lực công nghiệp của doanh nghiệp Việt Nam. Khi vượt qua những yêu cầu đó, doanh nghiệp cung ứng không chỉ có thêm một khách hàng mà còn dần tích lũy được kinh nghiệm kiểm soát chất lượng, tổ chức sản xuất, quản trị chi phí và vận hành theo tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu, từ đó lớn dần lên.
| Dây chuyền sản xuất ICON e: của Honda Việt Nam có công suất 25.000 xe/năm |
Trong 30 năm qua, nhiều nhà cung cấp của Honda Việt Nam đã hội tụ năng lực, chủ động tìm kiếm được khách hàng, tham gia những chuỗi sản xuất mới và từng bước hướng ra thị trường quốc tế bằng cách này.
Nhưng để có được điều này, ngay khi đặt chân tới Honda Việt Nam đã xây dựng chiến lược nội địa hóa, bắt đầu từ việc đào tạo, hỗ trợ đối tác hoàn thiện năng lực sản xuất, gia tăng tỷ lệ linh kiện sản xuất tại Việt Nam, gia tăng các nhà cung cấp cấp I đến các hoạt động đầu tư nghiên cứu, phát triển.
Quá trình đó không diễn ra trong một vài năm mà là kết quả của một doanh nghiệp chọn Việt Nam dầu tư lâu dài, bài bản, chuyên nghiệp.
Hiện Honda Việt Nam đang cùng các nhà cung cấp Việt Nam xây dựng, phát triển hệ sinh thái sản xuất theo những đòi hỏi mới của quá trình phát triển.
Mới đây, Honda Việt Nam đã công bố kế hoạch mở rộng danh mục xe máy điện phổ thông trong giai đoạn 2026-2027. Trước đó, ở dòng sản phẩm xe máy điện, Honda Việt Nam đưa ICON e: vào sản xuất trong nước trên dây chuyền có công suất 25.000 xe/năm; tiếp đó giới thiệu CUV e: và Honda UC3. Điều đáng chú ý không nằm sự đa dạng dòng sản phẩm của Honda Việt Nam mà là khả năng tái cấu trúc năng lực sản xuất khi công nghệ thay đổi.
Quá trình chuyển đổi cũng diễn ra bên trong các cơ sở sản xuất. Honda Việt Nam đang vận hành hệ thống điện mặt trời mái nhà tại Phú Thọ và Ninh Bình với tổng công suất 8 MWp, phối hợp cùng các nhà cung cấp để giảm phát thải và đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 46% CO2 so với năm 2019.
| Tháng 8/2026, Honda Việt Nam ra mắt Vario 125 hoàn toàn mới |
Dòng vốn FDI thế hệ mới
Những bước đi trên của Honda tại Việt Nam nằm trong cam kết của Honda Motor về việc chung tay cùng Việt Nam thực hiện mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050.
Tuy nhiên, ngành xe đang bước vào một chu kỳ thay đổi lớn. Xe điện phát triển nhanh trong khi xe động cơ đốt trong vẫn còn một thị trường lớn. Honda Việt Nam đang phải thích ứng với tất cả những thay đổi đó.
Tháng 8/2026, Honda Việt Nam giới thiệu Vario 125 hoàn toàn mới, lần đầu được trang bị động cơ đạt chuẩn khí thải Euro 4. Honda đang tiếp tục cải tiến động cơ giúp tối ưu quá trình đốt cháy nhiên liệu, kiểm soát các chất phát thải như CO, HC và NOx tốt hơn. Với Vario 125, động cơ Euro 4 có thể làm giảm tới 60% lượng khí thải so với phiên bản trước.
Điều này cũng tạo ra những lợi thế mới cho xe máy truyền thống của Honda Việt Nam khi khả năng bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế phụ tùng và sự thuận tiện trong suốt vòng đời sử dụng là những yếu tố rất được người tiêu dùng chú trọng khi quyết định mua xe.
Nhưng quan trọng hơn, khi các tập đoàn toàn cầu nâng chuẩn về phát thải, năng lượng, nguyên liệu và sản xuất xanh, các yêu cầu đó ngay lập tức tác động trực tiếp mạng lưới nhà cung cấp, từ đó tạo ra áp lực nâng chuẩn đối với cả hệ sinh thái sản xuất.
Với góc nhìn này, dấu ấn của Honda Việt Nam hay rộng hơn, giá trị của dòng vốn FDI mà Việt Nam đang cần là kéo nền sản xuất trong nước đi cùng với những tiêu chuẩn mới của thị trường toàn cầu.
Từ đây, Việt Nam không chỉ sẽ có 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó 500-1.000 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp I trong vòng 5 năm tới, như chỉ tiêu đặt ra trong Nghị quyết 10-NQ/TW về phá triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mà còn tạo những giá trị mới, năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.