Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tập trung khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh. Định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa trong Luật Phòng bệnh năm 2025, tạo cơ sở để tổ chức tiêm bù, tiêm chiến dịch khi xuất hiện khoảng trống miễn dịch và mở rộng tiếp cận dự phòng theo từng nhóm dân cư.
| Tiêm chủng không còn chỉ dành cho trẻ em mà cần được nhìn theo vòng đời, từ phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên đến người trưởng thành, người cao tuổi và các nhóm nguy cơ cao. |
Tiêm chủng được xem là một trong những giải pháp hiệu quả giúp giảm gánh nặng bệnh tật, hạn chế biến chứng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cách tiếp cận tiêm chủng theo vòng đời cũng ngày càng được chú trọng, thay vì tập trung chủ yếu vào trẻ em như trước.
Theo đó, nhu cầu phòng bệnh truyền nhiễm tồn tại ở mọi lứa tuổi. Phụ nữ mang thai, trẻ em, thanh thiếu niên, người trưởng thành, người cao tuổi và những người có bệnh nền đều có những nguy cơ khác nhau, cần được đánh giá và tư vấn tiêm chủng phù hợp.
Một số bệnh truyền nhiễm vẫn đặt ra nguy cơ đáng lưu ý. Virus hợp bào hô hấp RSV là một trong những nguyên nhân phổ biến gây nhiễm khuẩn hô hấp dưới ở trẻ nhỏ, đặc biệt trong những tháng đầu đời. Bệnh do não mô cầu dù số mắc không cao như nhiều bệnh truyền nhiễm khác nhưng có thể diễn biến rất nhanh, gây biến chứng nặng và tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Sốt xuất huyết cũng tiếp tục là thách thức y tế công cộng ở nhiều địa phương. GS-TS.Vũ Sinh Nam, Hội Y học dự phòng Việt Nam cho rằng việc kiểm soát bệnh cần kết hợp nhiều giải pháp như kiểm soát vector truyền bệnh, giám sát dịch tễ, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và triển khai các biện pháp dự phòng phù hợp, trong đó có tiêm vắc-xin.
Việc mở rộng tiêm chủng vì thế không chỉ là bổ sung thêm các loại vắc-xin, mà quan trọng hơn là bảo đảm từng nhóm dân cư được tiếp cận đúng loại vắc-xin, đúng thời điểm và phù hợp với nguy cơ.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Đây là nhóm dễ chịu tác động nặng nề hơn từ các bệnh truyền nhiễm do hệ miễn dịch suy giảm theo tuổi tác, đặc biệt ở người có bệnh nền như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tim mạch, đái tháo đường hoặc suy giảm miễn dịch.
Theo số liệu được dẫn trong bài viết, mô hình dự báo trong 5 năm qua ước tính có khoảng 4,6 triệu ca hô hấp cấp do RSV ở người từ 60 tuổi trở lên, trong đó khoảng 200.000 ca phải nhập viện và gần 18.000 ca tử vong do bệnh đường hô hấp dưới liên quan đến RSV.
TS.Đoàn Thu Trà, Quyền Viện trưởng Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai cho rằng để bảo vệ tốt hơn người cao tuổi có bệnh nền, tư vấn tiêm chủng cần được tích hợp vào các điểm chạm chăm sóc sức khỏe thường quy như khám tim mạch, hô hấp, nội tiết, thận, lão khoa hoặc trước thời điểm người bệnh xuất viện.
Nhân viên y tế có thể rà soát lịch sử tiêm chủng, đánh giá tình trạng sức khỏe, bệnh nền và các yếu tố nguy cơ của từng người, từ đó tư vấn loại vắc-xin phù hợp theo hướng dẫn chuyên môn.
Đối với người mắc các bệnh mạn tính, dự phòng nhiễm trùng cũng là một phần trong quản lý bệnh lâu dài. Một số nghiên cứu cho thấy người mắc hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim mạch hoặc đái tháo đường có nguy cơ mắc zona thần kinh cao hơn. Các bệnh nhiễm trùng hô hấp cũng có thể làm bệnh nền mất ổn định và tăng nguy cơ nhập viện.
Quyết định số 1983/QĐ-BYT ngày 1/7/2026 của Bộ Y tế về hướng dẫn kiểm soát yếu tố nguy cơ, người có yếu tố nguy cơ và người mắc bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng cũng nêu các biện pháp tiêm chủng dự phòng đối với nhiều bệnh như viêm gan B, ung thư cổ tử cung, RSV, cúm, phế cầu và zona.
Còn theo Ths.Phí Văn Kiên, Trưởng phòng Quản lý tiêm chủng, Cục Phòng bệnh, giai đoạn 2026-2030 là giai đoạn chuyển đổi quan trọng, đòi hỏi đổi mới toàn diện công tác tiêm chủng.
Bên cạnh việc duy trì và nâng cao tỷ lệ bao phủ các vắc-xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng, ngành y tế sẽ từng bước triển khai thêm các vắc-xin mới, mở rộng tiêm chủng cho người lớn, người cao tuổi và nhóm nguy cơ cao.
Một hướng đi đáng chú ý là lồng ghép dịch vụ tiêm chủng với chăm sóc sức khỏe ban đầu, đồng thời thúc đẩy phối hợp công - tư để người dân có thể tiếp cận dịch vụ dự phòng thuận lợi hơn trong suốt cuộc đời.
Dự kiến trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ thí điểm bốn loại vắc-xin phòng sốt xuất huyết, viêm màng não do não mô cầu, thủy đậu và tay chân miệng tại một số địa phương trước khi xem xét nhân rộng.
Đích đến là xây dựng hệ thống tiêm chủng quốc gia hiện đại, an toàn, bền vững, bảo đảm người dân được tiếp cận công bằng với dịch vụ tiêm chủng chất lượng và từng bước hình thành tư duy tiêm chủng trọn đời.
Cũng về vai trò của tiêm chủng, theo Ths.Lê Thanh Khôi giữ chức vụ Phó Giám đốc Y khoa, trực thuộc Hội đồng Y khoa của Hệ thống Nhà thuốc và Tiêm chủng Long Châu, tiêm chủng cần được nhìn nhận như một biện pháp bảo vệ sức khỏe xuyên suốt vòng đời, từ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên đến người trưởng thành và người cao tuổi. Mỗi nhóm tuổi có nguy cơ mắc bệnh khác nhau, vì vậy lịch tiêm cần được cá thể hóa dựa trên tuổi, giới tính, tiền sử tiêm chủng, bệnh nền, tình trạng miễn dịch, nghề nghiệp, môi trường sống và nguy cơ phơi nhiễm.
Với trẻ em, theo các chuyên gia dự phòng, việc tiêm đầy đủ và đúng lịch các vắc-xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng cũng như những vắc-xin được khuyến cáo theo độ tuổi giúp tạo miễn dịch từ sớm trước nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Một số vắc-xin có thể được chỉ định ngay từ những tháng đầu đời như lao, viêm gan B, bạch hầu - ho gà - uốn ván, bại liệt, Hib, phế cầu, Rotavirus; sau đó tiếp tục với sởi - quai bị - Rubella, cúm, thủy đậu, não mô cầu và các vắc-xin khác phù hợp với lứa tuổi.
Ở nhóm thanh thiếu niên, ngoài việc rà soát và tiêm bù các mũi còn thiếu, cần chú ý những vắc-xin phù hợp với độ tuổi như HPV, viêm gan, cúm, phế cầu, não mô cầu, sởi - quai bị - Rubella, thủy đậu và các mũi nhắc bạch hầu - ho gà - uốn ván. Đây cũng là giai đoạn quan trọng để củng cố miễn dịch trước khi bước vào tuổi trưởng thành.
Người trưởng thành cũng không nên cho rằng đã tiêm vắc-xin từ nhỏ thì không cần tiêm thêm. Tuy nhiên, miễn dịch đối với một số bệnh có thể giảm dần theo thời gian, trong khi nguy cơ phơi nhiễm vẫn tồn tại.
Người lớn cần được rà soát lịch sử tiêm chủng để bổ sung hoặc tiêm nhắc các vắc-xin phù hợp như cúm, bạch hầu - ho gà - uốn ván, viêm gan B, HPV, phế cầu, não mô cầu, thủy đậu, sởi - quai bị - Rubella và các vắc-xin khác theo nguy cơ cá nhân. Não mô cầu, chẳng hạn, không chỉ là nguy cơ ở trẻ nhỏ mà người trưởng thành cũng có thể mắc, đặc biệt trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao.
Với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản hoặc chuẩn bị mang thai, việc rà soát tình trạng miễn dịch và lịch tiêm trước thai kỳ có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của mẹ và trẻ. Tùy từng giai đoạn, bác sỹ sẽ tư vấn những vắc-xin phù hợp, thời điểm tiêm và khoảng cách cần thiết để bảo đảm an toàn.
Người trung niên, người cao tuổi và người mắc bệnh nền như đái tháo đường, tim mạch, bệnh hô hấp mạn tính hoặc suy giảm miễn dịch cần đặc biệt chú ý dự phòng các bệnh có nguy cơ gây biến chứng nặng. Các bác sỹ khuyến cáo nhóm này cần được tư vấn các vắc-xin như cúm, phế cầu, zona thần kinh, RSV, bạch hầu - ho gà - uốn ván và viêm gan B tùy tuổi, bệnh nền và tiền sử tiêm chủng
Các bác sỹ cũng lưu ý không có một lịch tiêm giống nhau cho tất cả mọi người. Người dân nên mang theo thông tin hoặc sổ tiêm chủng cũ nếu có, được khám sàng lọc trước tiêm và trao đổi với bác sỹ về bệnh nền, thuốc đang sử dụng, tiền sử dị ứng hoặc phản ứng sau tiêm. Việc rà soát định kỳ lịch tiêm giúp phát hiện các mũi còn thiếu, các mũi cần nhắc và những vắc-xin mới phù hợp với từng giai đoạn cuộc đời.