Đề nghị bỏ tiêu chí về mức dự trữ lưu thông
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý Dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo, trong đó đề nghị bỏ tiêu chí về mức dự trữ lưu thông khi đánh giá tín nhiệm thương nhân xuất khẩu gạo.
| VCCI cho rằng việc yêu cầu thương nhân duy trì lượng dự trữ vật chất lớn làm gia tăng chi phí trung gian trong chuỗi giá trị lúa gạo |
Làm rõ quan điểm, VCCI viện dẫn nội dung khoản 2 Điều 16 dự thảo quy định về cách tính điểm của tiêu chí kết quả thực hiện dự trữ lưu thông. Theo đó, thương nhân có tỷ lệ dự trữ lưu thông càng lớn sẽ được điểm càng cao. Doanh nghiệp duy trì lượng dự trữ trên 25% sản lượng gạo đã xuất khẩu trong 6 tháng trước đó được chấm mức tối đa 40 điểm. Các tỷ lệ này thấp dần sẽ tương ứng với số điểm thấp hơn (20%-22%: 32 điểm; 15%-20%: 24 điểm; 10%-15%: 16 điểm; 5%-10%: 8 điểm).
Tuy nhiên, VCCI cho rằng quy định này chưa phù hợp.
Vì Điều 13 của dự thảo Nghị định đã yêu cầu thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 5% lượng gạo đã xuất khẩu trong 6 tháng trước đó. Lượng gạo dự trữ này sẽ được sử dụng trong trường hợp bình ổn giá thóc, gạo hàng hóa trong nước theo chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp duy trì mức dự trữ trên 25% nhằm đạt điểm tín nhiệm cao sẽ khiến doanh nghiệp phải bỏ ra lượng vốn rất lớn để tích trữ hàng hóa.
"Mặt khác, yêu cầu này cũng tạo ra rủi ro cho doanh nghiệp khi bỏ ra lượng vốn lớn để mua gạo dự trữ trong khi không chắc chắn mình có được Nhà nước giao chỉ tiêu phân bổ xuất khẩu không. Trong trường hợp không được giao chỉ tiêu, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khó khăn về lượng gạo tồn kho", VCCI nêu quan điểm.
Ngoài áp lực về dòng tiền, VCCI cho rằng việc yêu cầu thương nhân duy trì lượng dự trữ vật chất lớn cũng làm gia tăng chi phí trung gian trong toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo.
Theo tổ chức này, sản lượng lúa gạo của cả nước là số liệu cơ quan quản lý hoàn toàn có thể nắm được thông qua hệ thống báo cáo của các địa phương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Dù gạo được lưu giữ tại kho của nông dân hay doanh nghiệp thì vẫn là nguồn lực của quốc gia. Vì vậy, việc tập trung lượng hàng lớn tại kho của doanh nghiệp xuất khẩu không làm tăng nguồn cung thực tế mà chỉ làm tăng chi phí lưu kho và chi phí vốn.
Trên cơ sở đó, VCCI đề nghị bỏ tiêu chí về mức dự trữ lưu thông trong hệ thống chấm điểm tín nhiệm thương nhân. Theo VCCI, dự thảo đã có tiêu chí về "xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm", đây là căn cứ phù hợp hơn để đánh giá khả năng bảo đảm nguồn cung phục vụ xuất khẩu.
Cân nhắc kỹ cơ chế chỉ định thương nhân đầu mối giao dịch, đầu mối luân phiên xuất khẩu gạo
Bên cạnh góp ý về tiêu chí dự trữ lưu thông, VCCI cũng bày tỏ lo ngại cơ chế chỉ định thương nhân đầu mối giao dịch hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung có thể tạo lợi thế cho một nhóm doanh nghiệp đã có thành tích xuất khẩu trong quá khứ, khiến doanh nghiệp mới và doanh nghiệp nhỏ khó có cơ hội tham gia thị trường.
VCCI cho rằng các tiêu chí lựa chọn thương nhân đầu mối chủ yếu dựa trên thành tích xuất khẩu trong hai năm gần nhất và mức độ tín nhiệm, trong khi chính mức độ tín nhiệm lại được chấm dựa trên kết quả hoạt động xuất khẩu trước đó. Cách thiết kế này có nguy cơ tạo thành "vòng tròn khép kín", khiến quyền tham gia các hợp đồng tập trung tiếp tục tập trung vào một số doanh nghiệp có sẵn thị phần.
Để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn, VCCI kiến nghị bổ sung cơ chế phân bổ riêng, có thể khoảng 10-15%, lượng gạo trong các hợp đồng tập trung để đấu thầu công khai hoặc phân bổ riêng cho nhóm thương nhân mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm để họ tích lũy thành tích ban đầu. Đồng thời quy định rõ tiêu chí chỉ định thương nhân đầu mối, nguyên tắc luân phiên và phương thức phân bổ chỉ tiêu nhằm bảo đảm tính minh bạch...
i) Thành tích xuất khẩu gạo của thương nhân trong 2 năm gần nhất vào thị trường dự kiến giao dịch hợp đồng tập trung;
ii) Thành tích xuất khẩu gạo của thương nhân trong 2 năm gần nhất;
iii) Giao dịch với đối tác nước ngoài được chỉ định hoặc dự kiến được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu gạo; iv) mức độ tín nhiệm của thương nhân.