Loạt ngân hàng giảm phòng thủ nợ xấu
Tính đến cuối tháng 6/2026, số ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Quán quân về tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn hệ thống vẫn là Vietcombank với 279%, tiếp theo là Agribank với 150%. Các ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% lần lượt là VietinBank (134%); Techcombank (125,5%); ACB (105%)...
Một số ngân hàng từng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% vào cuối năm 2025 đã phải chấp nhận giảm bộ đệm dự phòng do tốc độ tăng trưởng nợ xấu cao hơn tốc độ tăng trích lập dự phòng rủi ro.
| Hiện nợ xấu và nợ cần chú ý của các ngân hàng có xu hướng tăng |
Cụ thể, cuối năm ngoái, BIDV có tỷ lệ bao phủ nợ xấu 109%, đến ngày 30/6 chỉ còn 76%. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại ABBank cũng chỉ còn 87%, so với 120% cuối năm ngoái. Nguyên nhân là, nợ xấu của BIDV tăng 31%, trong khi trích lập dự phòng rủi ro chỉ tăng 6%. Tương tự, nợ xấu của ABBank cũng tăng tới 62%, trong khi trích lập dự phòng rủi ro chỉ tăng 17%.
Khảo sát báo cáo tài chính quý II/2026 của các ngân hàng thương mại cho thấy, ngoại trừ các ngân hàng kể trên, mức bao phủ nợ xấu bình quân của các ngân hàng chỉ ở mức 50-60%. Trừ Vietcombank tăng mạnh về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, hầu hết các ngân hàng đều sụt giảm hoặc đi ngang ở chỉ số này.
Theo báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026 của Công ty Chứng khoán Rồng Việt, nợ xấu nội bảng tại các ngân hàng niêm yết (không tính Agribank) đạt khoảng 310.000 tỷ đồng vào cuối quý II. Tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ từ 1,99% cuối quý I lên 2,01%.
Riêng nợ xấu hình thành ròng trong quý II/2026 đạt gần 50.000 tỷ đồng, trong khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng trong quý II chỉ đạt hơn 43.000 tỷ đồng. Tổng quy mô nợ xấu mới cao hơn chi phí trích lập dự phòng rủi ro mới, đồng nghĩa với tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn hệ thống trong quý II sẽ tiếp tục sụt giảm so với mức hơn 80% cuối quý I/2026.
Đáng lưu ý, tỷ lệ nợ xấu có nguy cơ tăng mạnh trong nửa cuối năm, đồng nghĩa tỷ lệ bao phủ nợ xấu sẽ tiếp tục bị bào mòn nếu các ngân hàng không đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro tương ứng.
Tính đến cuối quý II/2026, quy mô nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) tăng lên hơn 212.000 tỷ đồng. Riêng nợ nhóm 2 hình thành ròng trong quý đạt gần 81.000 tỷ đồng, cao nhất kể từ quý I/2023. Nếu chỉ cần một phần nợ nhóm 2 chuyển thành nợ xấu, các ngân hàng sẽ phải tăng trích lập dự phòng.
Tại những ngân hàng có bộ đệm dự phòng thấp, việc nợ nhóm 2 chuyển thành nợ xấu có thể kéo theo nhu cầu tăng chi phí dự phòng. Khi đó, một phần lợi nhuận trước dự phòng sẽ phải được sử dụng để xử lý rủi ro tín dụng.
Áp lực này xuất hiện trong bối cảnh nguồn thu từ các khoản nợ đã xử lý rủi ro bắt đầu chậm lại. Việc thu hồi nợ ngoại bảng chậm lại diễn ra trong bối cảnh thanh khoản thị trường bất động sản - một trong những kênh xử lý tài sản bảo đảm quan trọng - có dấu hiệu hạ nhiệt khi mặt bằng lãi suất ở mức cao.
Trong những năm gần đây, thu hồi nợ đã xử lý rủi ro, đóng góp đáng kể vào thu nhập ngoài lãi của nhiều ngân hàng. Khi nguồn thu này giảm tốc, khả năng bù đắp chi phí tín dụng từ hoạt động thu hồi nợ cũng bị hạn chế.
Vì vậy, dù nợ nhóm 2 tăng chưa đồng nghĩa nợ xấu sẽ tăng, song với tình hình thị trường như hiện nay, nguy cơ này là rất lớn.
Nếu nợ xấu tiếp tục tăng trong nửa cuối năm, áp lực trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng sẽ rất lớn. Đặc biệt, những ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp sẽ phải đứng trước bài toán cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và việc tăng cường bộ đệm dự phòng rủi ro.
Kiểm soát lãi suất để giảm áp lực nợ xấu
Theo các chuyên gia phân tích, nợ xấu và nợ cần chú ý tăng cao trong quý II/2026 là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng nhanh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ. Dù vậy, việc hạ lãi suất không dễ khi tín dụng đang tăng cao hơn huy động và giá vốn đầu vào của các ngân hàng ngày càng đắt đỏ.
Báo cáo tài chính riêng lẻ quý II/2026 của VPBank cho thấy, nửa đầu năm nay, tín dụng của ngân hàng này tăng gần 25%, trong khi tiền gửi chỉ tăng 15,8%. Tỷ trọng CASA (tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn trên tổng huy động vốn từ khách hàng) chỉ còn 12,5%, thay vì 14,6% vào cuối năm trước.
Tương tự, tại LPBank, tín dụng tính đến cuối tháng 6/2026 tăng 9,8%, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 4,7%. CASA của LPBank giảm tới 6.000 tỷ đồng, tương ứng giảm 22% về giá trị; tỷ trọng CASA cũng giảm từ 8,45% cuối năm ngoái xuống còn 6,3% tại thời điểm 30/6/2026.
Tại ABBank, riêng trong quý II/2026, dư nợ cho vay tăng hơn 15% so với quý trước, trong khi huy động thậm chí còn giảm 3%, khiến nguồn vốn bị phụ thuộc rất lớn vào thị trường liên ngân hàng.
Không chỉ VPBank, LPBank hay ABBank, nhìn vào báo cáo tài chính của 28 ngân hàng thương mại có thể thấy, gần như tất cả các ngân hàng đều ghi nhận tăng trưởng huy động chậm lại và tỷ trọng CASA sụt giảm mạnh.
Tỷ trọng tiền gửi kỳ hạn ngắn (1-6 tháng) cũng giảm mạnh, trong khi tiền gửi kỳ hạn dài tăng lên. Dòng vốn dịch chuyển từ kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài để hưởng lãi suất cao hơn khiến các ngân hàng ngày càng khan hiếm nguồn vốn giá rẻ.
Cùng với lãi suất huy động tăng, việc dịch chuyển cơ cấu kỳ hạn tiền gửi cũng là nguyên nhân đẩy lãi suất cho vay tăng lên, gây tác động tiêu cực đến nợ xấu. Do đó, giảm lãi suất cho vay là giải pháp cấp bách nhất hiện nay để giảm áp lực nợ xấu.
Hiện mặt bằng lãi suất huy động đã dịu bớt sau khi NHNN ban hành Quyết định số 1743/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi lên 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (thay cho mức 20% trước đó). Dù vậy, với chênh lệch giữa huy động và cho vay cao như hiện nay, quy định trên vẫn chỉ là giải pháp tình thế, chưa giải quyết tận gốc vấn đề nguồn vốn cho tăng trưởng. Các chuyên gia dự đoán lãi suất vẫn sẽ neo ở mặt bằng cao trong thời gian tới.
Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026 diễn ra đầu tuần này, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tập trung triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản, phấn đấu giảm lãi suất cho vay, giảm chi phí cho nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối.
Thủ tướng cũng yêu cầu NHNN xử lý nghiêm hành vi cạnh tranh lãi suất không lành mạnh; điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ của nền kinh tế; tạo điều kiện cho các dự án trọng điểm quốc gia tiếp cận nguồn vốn; kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đẩy mạnh xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng...
Phó thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, từ đầu năm đến nay, NHNN giữ nguyên lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý. Kết quả là, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tương đối ổn định, duy trì ở mức hợp lý và thanh khoản dồi dào. Ngoài ra, cơ quan này cũng đã triển khai nhiều công cụ, giải pháp nhằm bảo đảm thanh khoản cho thị trường liên ngân hàng.
Để hạ mặt bằng lãi suất, NHNN đã họp với các ngân hàng thương mại, đồng thời chỉ đạo, khuyến khích các tổ chức tín dụng phát huy vai trò tiên phong, đặc biệt là các ngân hàng thương mại nhà nước, chủ động bố trí nguồn vốn cho vay ưu đãi, giảm lãi suất đối với các chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các lĩnh vực ưu tiên.
Đến nay, 4 ngân hàng thương mại nhà nước đã đăng ký 220.000 tỷ đồng để triển khai gói cho vay ưu đãi này. NHNN đang khẩn trương xây dựng hướng dẫn cụ thể để các ngân hàng có thể triển khai trong vài ngày tới.
Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước để điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, nhằm bảo đảm ổn định thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng, ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Phó thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà