Kinh doanh
Đề xuất Luật Công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp Việt đi sâu vào chuỗi cung ứng
Linh Nguyễn - 30/09/2026 20:48
Công nghiệp hỗ trợ cần một khung pháp lý đủ mạnh, gắn hỗ trợ doanh nghiệp với đơn hàng, công nghệ và thị trường, qua đó nâng phần giá trị do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra trong chuỗi sản xuất.

Từ kết nối sang phát triển nhà cung cấp

Tại Hội thảo khoa học về định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA), Chủ tịch Tập đoàn N&G Việt Nam cho rằng giai đoạn tới cần chuyển mạnh chính sách công nghiệp hỗ trợ từ hỗ trợ phân tán sang phát triển năng lực doanh nghiệp gắn trực tiếp với chuỗi cung ứng.

Theo ông Nguyễn Hoàng, những điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện nay vẫn tập trung ở quy mô nhỏ, năng lực phân tán; khoảng cách về công nghệ, vốn, nhân lực, thử nghiệm và chứng nhận còn khá lớn. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp thiếu “thị trường đầu tiên” sau đầu tư, tức chưa xác định rõ sản phẩm sẽ được ai mua, phải đáp ứng tiêu chuẩn nào, quá trình thử mẫu ra sao và thời điểm có thể hình thành đơn hàng.

Đây cũng là lý do HANSIBA đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp hỗ trợ. Trường hợp lĩnh vực này được tích hợp trong Luật Công nghiệp trọng điểm, theo ông Hoàng, cần thiết kế một chương riêng với khung chính sách đủ mạnh, thay vì giới hạn ở một nhóm ưu đãi.

Ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA), Chủ tịch Tập đoàn N&G Việt Nam.

Đề xuất trên được đặt ra khi Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035. Chương trình tạo khung định hướng mới cho phát triển nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và các sản phẩm đầu vào phục vụ sản xuất trong nước.

Theo đại diện HANSIBA, bước tiếp theo cần hướng tới một cơ chế pháp lý ổn định, dài hạn, bởi đầu tư công nghiệp thường có chu kỳ nhiều năm. Với các dây chuyền cơ khí chính xác, vật liệu, bán dẫn hay thiết bị thử nghiệm, doanh nghiệp cần khả năng dự báo chính sách đủ dài để quyết định đầu tư.

"Trọng tâm hỗ trợ doanh nghiệp cần dịch chuyển từ “xúc tiến kết nối” sang phát triển nhà cung cấp có năng lực thực chất. Theo cách tiếp cận này, với các dự án lớn và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngay từ đầu cần xác định nhóm sản phẩm có khả năng mua trong nước, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình thử mẫu và lộ trình phát triển doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung ứng", ông Nguyễn Hoàng nêu ý kiến.

Chất lượng thu hút đầu tư cũng có thể được nhìn thêm từ số doanh nghiệp Việt được nâng cấp năng lực, số nhà cung cấp trong nước tham gia chuỗi và giá trị hàng hóa, linh kiện được mua tại Việt Nam.

Thực tế, để trở thành nhà cung cấp cấp 1 hoặc cấp 2 cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp phải đầu tư đồng thời máy móc, quản trị chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, nhân lực kỹ thuật và hệ thống bảo mật dữ liệu. Nhiều sản phẩm phải trải qua nhiều vòng thử mẫu trước khi có đơn hàng.

Vì vậy, hiệu quả chính sách không nên chủ yếu đo bằng số cuộc hội nghị hay chương trình xúc tiến, mà cần dựa vào bao nhiêu doanh nghiệp hoàn thành chứng nhận quốc tế, bao nhiêu sản phẩm vượt thử nghiệm, bao nhiêu hợp đồng cung ứng dài hạn được ký và giá trị mua hàng trong nước tăng ra sao?

Từ thực tiễn doanh nghiệp, vị chủ tịch HANSIBA đề xuất xây dựng chương trình phát triển 5.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có năng lực thực chất đến năm 2035.

Theo đề xuất, mỗi doanh nghiệp tham gia chương trình cần có hồ sơ năng lực, danh mục thiết bị, chứng chỉ, công suất sản xuất và lộ trình công nghệ cụ thể; đồng thời được kết nối với khách hàng, chuỗi cung ứng hoặc sản phẩm mục tiêu. Doanh nghiệp có thể được phân nhóm theo năng lực cung ứng trực tiếp, nhóm đang nâng cấp để trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 và nhóm doanh nghiệp tiềm năng.

Nguồn vốn cũng là mắt xích được đề xuất xử lý theo hướng dài hạn hơn. HANSIBA kiến nghị xây dựng các công cụ tín dụng, bảo lãnh, đồng tài trợ phù hợp với dự án công nghiệp; xem xét khả năng đánh giá tín dụng dựa thêm trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và tài sản hình thành trong tương lai, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp truyền thống.

Song song với vốn, cần phát triển hệ thống phòng thí nghiệm, đo kiểm, trung tâm thử nghiệm dùng chung để giảm chi phí cho doanh nghiệp ở giai đoạn làm mẫu và chứng nhận sản phẩm.

Hà Nội xây hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ

Đối với Hà Nội, phát triển công nghiệp hỗ trợ đang được định hướng theo hướng tăng số lượng doanh nghiệp đồng thời nâng khả năng tham gia chuỗi cung ứng.

Theo Kế hoạch số 24/KH-UBND ngày 15/1/2026, Hà Nội đặt mục tiêu đến hết năm 2026 có khoảng 1.040 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; từ 200-500 lượt doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, sản xuất sản phẩm công nghiệp ưu tiên, công nghiệp có thế mạnh và công nghiệp chủ lực được hỗ trợ. Thành phố cũng định hướng tăng thu hút doanh nghiệp vào Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội và các khu công nghiệp, khu công nghệ cao đã có hạ tầng.

Từ thực tiễn Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội (HANSSIP), ông Nguyễn Hoàng đề xuất phát triển mô hình Tổ hợp công nghiệp công nghệ, trong đó sản xuất, nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, đào tạo, logistics và dịch vụ chuyên gia cùng nằm trong một hệ sinh thái.

Tại HANSSIP, mô hình hợp tác công nghiệp Việt Nam - Nhật Bản đang được thúc đẩy theo hướng phát triển cơ khí chính xác và các sản phẩm có khả năng tham gia chuỗi hàng không - vũ trụ, đường sắt, robot, bán dẫn và một số lĩnh vực công nghệ cao.

Các đại biểu chụp hình lưu niệm tại Hội thảo.

Hiện Tập đoàn N&G và đối tác Nhật Bản đã triển khai đào tạo doanh nghiệp Việt trong chuỗi sản xuất linh kiện hàng không - vũ trụ, tàu cao tốc; một số doanh nghiệp đã được cấp hoặc đang chuẩn bị hoàn tất chứng chỉ AS9100D.

Do đó, đại diện HANSIBA kiến nghị hình thành các Tổ hợp công nghiệp công nghệ tại ba miền Bắc, Trung, Nam, nhưng phải kết nối với nhau bằng bản đồ năng lực cung ứng quốc gia, dữ liệu doanh nghiệp, tiêu chuẩn và nhu cầu đặt hàng, tránh hình thành các khu sản xuất biệt lập.

Theo ông Nguyễn Hoàng, Việt Nam khó nâng năng lực tự chủ công nghiệp nếu giá trị tạo ra trong nước vẫn tập trung ở các khâu có hàm lượng công nghệ thấp. Mục tiêu dài hạn cần hướng tới ngày càng nhiều linh kiện, thiết bị và công nghệ được doanh nghiệp Việt nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và làm chủ.

Bởi vậy, chính sách công nghiệp hỗ trợ cần được đo bằng kết quả tại nhà máy và trong hợp đồng: số doanh nghiệp đạt chuẩn quốc tế, số nhà cung cấp cấp 1, cấp 2, sản phẩm thay thế nhập khẩu, giá trị mua hàng trong nước và số doanh nghiệp Việt thực sự bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi vốn, công nghệ, thử nghiệm và thị trường được kết nối thành một hệ thống đồng bộ, công nghiệp hỗ trợ mới có thể trở thành nền tảng để doanh nghiệp trong nước nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ mở rộng quy mô sản xuất.

Tin liên quan
Tin khác