Thời sự Đầu tư
Đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao
Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành "quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn".

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sáng 29/7, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam".

Chuyên đề tập trung vào 5 nội dung chính gồm: bối cảnh và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển; quan điểm chỉ đạo; mục tiêu và định hướng tầm nhìn; nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu; tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam". Ảnh: Đức Thanh.

Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao

Trình bày về bối cảnh ban hành Nghị quyết, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết sau 40 năm Đổi mới và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được cải thiện, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2025.

Bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí nêu rõ đổi mới mô hình phát triển vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế; văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm của phát triển; an sinh xã hội, an ninh con người, hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và đổi mới quản trị quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, thế giới đang biến đổi nhanh, phức tạp với nhiều thay đổi mang tính thời đại. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ chiến lược và xu hướng phát triển, đồng thời làm thay đổi căn bản mô hình, phương thức sản xuất và quản trị. Trong bối cảnh Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược mới, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, việc đổi mới mô hình phát triển đất nước được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết.

Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định 5 quan điểm lớn. Trong đó, quan điểm thứ nhất khẳng định việc thực hiện nhất quán "bốn kiên định"; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường vai trò giám sát, phản biện và tạo đồng thuận xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời xác định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Việt Nam, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

Đối với quan điểm thứ hai, đồng chí nhấn mạnh đổi mới mô hình phát triển là quá trình đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm chuyển đổi sang "Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập"; "lấy con người là trung tâm, là chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển"; lấy nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi quốc gia về trí tuệ nhân tạo làm động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia làm những nguyên tắc trung tâm.

Một nội dung quan trọng khác được đồng chí đề cập là cơ chế vận hành của mô hình phát triển đất nước theo "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, Nhân dân làm chủ" trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nghị quyết đồng thời xác định phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là then chốt; phát triển văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực, động lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Nghị quyết cũng xác định việc khai thác, phát huy mọi tiềm năng, lợi thế và nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng tới xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; đồng thời yêu cầu quá trình đổi mới phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện, phù hợp với từng giai đoạn, lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển và dựa trên dữ liệu; "lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo".

Về mục tiêu phát triển, đồng chí cho biết Nghị quyết xác định các mốc đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130. Đến năm 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới, tạo đột phá về thể chế, quản trị quốc gia hiện đại, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp dẫn dắt. Đến năm 2035, cơ bản hoàn thành quá trình chuyển sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, đồng thời hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vận hành đồng bộ, hiệu quả Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành "quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn", có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng và an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.

Quang cảnh Hội nghị tại Hội trường Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội. Ảnh: Đức Thanh.

7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để đổi mới mô hình phát triển đất nước

Trình bày về nhiệm vụ, giải pháp, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị thông tin Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, gồm:

1) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị, gồm 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm từ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, đổi mới, hoàn thiện quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật đồng bộ, khả thi, linh hoạt, thích ứng nhanh; xây dựng chính phủ số, dữ liệu số và nền tảng số; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thí điểm và nhân rộng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa.

(2) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kinh tế, gồm 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp bao quát toàn diện từ xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống và phát huy các động lực tăng trưởng mới, đến tổ chức lại không gian phát triển; xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; hoàn thiện phát triển các loại thị trường; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính;

Đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia; phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới; xây dựng và triển khai chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa thế hệ mới; phát triển nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, chất lượng cao, hệ sinh thái doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao; phát triển hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, thông minh, xanh, kết nối đa tầng, đa phương thức; đổi mới mạnh mẽ liên kết nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; và phát triển đô thị thành động lực tăng trưởng quan trọng.

(3) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về xã hội, gồm 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đó là xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; có niềm tin, có khả năng thích ứng và phục hồi trước các biến động; quản trị, phát triển xã hội hiện đại dựa trên dữ liệu; xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, đa tầng, bao trùm, linh hoạt, thích ứng cao; chuyển đổi hệ thống y tế từ chữa bệnh sang phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện; đổi mới quản trị phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa thị trường lao động 

(4) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về văn hóa, con người, gồm 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trọng tâm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia. Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, lấy người học làm trung tâm. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Nâng cao chất lượng dân số và khai thác cơ hội phát triển từ chuyển đổi dân số.

(5) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về môi trường sinh thái, có 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, gồm: xây dựng văn hóa sinh thái, thúc đẩy lối sống xanh, phát triển xanh, hài hòa với thiên nhiên; phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; xây dựng nền tảng quản trị tài nguyên và môi trường hiện đại; chủ động phòng ngừa, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển công nghiệp môi trường.

(6) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về quốc phòng, an ninh, gồm 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, thích ứng với hình thái chiến tranh mới và các không gian chiến lược mới. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; nền an ninh nhân dân toàn diện, hiện đại gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân đa tầng, liên hoàn, vững chắc; gắn thế trận quốc phòng số, an ninh số và thế trận lòng dân.

Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, lưỡng dụng, hiện đại, có năng lực làm chủ công nghệ chiến lược, dẫn dắt với sự tham gia phù hợp của khu vực tư nhân trong nước. Phát triển toàn diện năng lực bảo đảm an ninh quốc gia; xây dựng và triển khai hiệu quả Chiến lược an ninh quốc gia; hoàn thiện khung chiến lược quốc gia về an ninh con người; bảo vệ người dân trước thách thức an ninh phi truyền thống và trên không gian mạng.

(7) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về đối ngoại và hội nhập quốc tế, gồm 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp; trọng tâm là xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm; triển khai đồng bộ, hiệu quả ngoại giao công nghệ, ngoại giao số, ngoại giao văn hóa và ngoại giao môi trường, khí hậu; phát huy vai trò của ngoại giao nguyên thủ. Nâng tầm đối ngoại đa phương; đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh; đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ.

Về tổ chức thực hiện, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết Nghị quyết phân công nhiệm vụ cụ thể đối với Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, các đảng ủy trực thuộc Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương cùng các cơ quan liên quan. Bộ Chính trị đã ban hành Chương trình hành động với 51 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và 40 chỉ tiêu chủ yếu, xác định rõ lộ trình, sản phẩm đầu ra và phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức chủ trì theo dõi, triển khai thực hiện.

Tin liên quan
Tin khác