Toàn cảnh đầu tư
Dự án cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành vốn 25.893 tỷ đồng khó cán đích năm 2026
Anh Minh - 21/08/2026 16:21
Tiến độ triển khai Dự án cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành đang rất chậm, trong đó Dự án thành phần 1 - xây dựng 128,8 km cao tốc, chiếm khoảng 77% tổng mức đầu tư mới triển khai thi công trên phạm vi khoảng 880 m.
Ảnh minh họa.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính vừa gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội Báo cáo thẩm tra việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 138/2024/QH15 ngày 28/6/2024 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa (Đắk Nông) - Chơn Thành (Bình Phước).

Khối lượng còn lại rất lớn

Điểm nhấn đáng chú ý nhất trong báo cáo này là việc Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá tiến độ triển khai Dự án rất chậm, khó đáp ứng yêu cầu tại Nghị quyết của Quốc hội.

Cụ thể, tiến độ chuẩn bị đầu tư, nhất là Dự án thành phần 1, chưa đáp ứng yêu cầu; công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa hoàn thành; kết quả phê duyệt phương án bồi thường, chi trả và bàn giao mặt bằng giữa hai địa phương có Dự án đi qua chênh lệch rất lớn; tỷ lệ giải ngân chung của toàn Dự án còn rất thấp.

Theo Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính, cần tiếp tục làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, trong đó lưu ý chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, khảo sát, dự báo và xác định các điều kiện thực hiện Dự án chưa thực sự sát với thực tế. Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị Chính phủ rà soát, làm rõ những nội dung phải điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện và xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tại Báo cáo số 488/BC-CP ngày 4/8/2026, Chính phủ cho biết, đến nay, cả 5/5 Dự án thành phần đã hoàn thành phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi, với tổng mức đầu tư khoảng 25.893 tỷ đồng.

Riêng Dự án thành phần 1 được phê duyệt tại Quyết định số 856/QĐ-TTg ngày 28/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ, chậm khoảng 4 tháng so với yêu cầu hoàn thành trong tháng 12/2024 tại Nghị quyết số 147/NQ-CP ngày 20/9/2024 của Chính phủ về triển khai Nghị quyết số 138/2024/QH15 ngày 28/6/2024 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa (Đắk Nông) - Chơn Thành (Bình Phước).

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận thấy, tiến độ chuẩn bị đầu tư, nhất là Dự án thành phần 1, chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác lập, thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán của Dự án thành phần 1 - hợp phần chiếm khoảng 77% tổng mức đầu tư toàn Dự án - mới hoàn thành thẩm định, phê duyệt 1/20 gói thầu xây lắp; 19 gói thầu còn lại đang trong quá trình thẩm định.

Trong khi đó, đây là hợp phần cốt lõi, có chiều dài khoảng 128,8 km, quy mô theo quy hoạch 6 làn xe, phân kỳ đầu tư 4 làn xe, bề rộng nền đường 24,75 m, quyết định tiến độ hoàn thành toàn tuyến cao tốc.

Do đó, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ báo cáo rõ nguyên nhân chậm, cam kết mốc thời gian cụ thể hoàn thành phê duyệt thiết kế kỹ thuật và xây dựng dự toán cho các gói thầu còn lại của Dự án thành phần 1, làm cơ sở đánh giá tính khả thi của Dự án.

Đồng thời, Chính phủ được đề nghị làm rõ khối lượng công việc còn lại, tiến độ và mốc hoàn thành cụ thể của từng Dự án thành phần. Trường hợp có nguy cơ không bảo đảm mục tiêu cơ bản hoàn thành năm 2026, cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, chủ đầu tư, địa phương có liên quan và giải pháp khắc phục, bảo đảm tính đồng bộ của toàn Dự án.

Về phương pháp lập tiến độ, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ lượng hóa mục tiêu “cơ bản hoàn thành năm 2026” bằng khối lượng, số gói thầu và điều kiện nghiệm thu cụ thể.

Tiến độ Dự án cũng cần được xây dựng lại theo đường găng với 2 kịch bản, gồm hoàn thành đúng tiến độ đã được Quốc hội quyết định hoặc chậm cục bộ nhưng không ảnh hưởng đến việc đưa toàn tuyến vào khai thác.

Đối với từng kịch bản, cần xác định rõ điều kiện, nguồn lực và trách nhiệm của các bên liên quan; đặc biệt, không đánh đổi các yêu cầu về khảo sát, thiết kế, thí nghiệm, kiểm định, nghiệm thu để chạy theo tiến độ.

Những điểm nghẽn lớn

Liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận thấy kết quả giải phóng mặt bằng giữa hai địa phương có Dự án đi qua chênh lệch rất lớn.

Cụ thể, đoạn qua TP. Đồng Nai đã phê duyệt 100% phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao mặt bằng 63/101,03 km, đạt 62,36%. Trong khi đó, đoạn qua tỉnh Lâm Đồng mới phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với 18,8% diện tích bị ảnh hưởng và chi trả đạt 15,12%.

Đáng chú ý, có ý kiến cho rằng Dự án thành phần 2 phải tạm dừng thi công một số hạng mục liên quan do Dự án thành phần 1 chưa phê duyệt đầy đủ hồ sơ thiết kế kỹ thuật. Tiến độ giải phóng mặt bằng tại tỉnh Lâm Đồng cũng được xác định là điểm nghẽn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ bàn giao mặt bằng cho các Dự án thành phần liên quan.

Do đó, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chỉ đạo làm rõ nguyên nhân chậm trễ tại tỉnh Lâm Đồng, trong đó xác định rõ nguyên nhân khách quan về địa hình, dân cư hay nguyên nhân chủ quan trong công tác chỉ đạo, điều hành; đồng thời có giải pháp, lộ trình cụ thể để rút ngắn khoảng cách về tiến độ giải phóng mặt bằng giữa hai địa phương, tránh ảnh hưởng dây chuyền đến tiến độ chung của Dự án và phát sinh khiếu nại, khiếu kiện trong nhân dân vùng Dự án.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị Chính phủ chỉ đạo xây dựng cơ chế hậu kiểm độc lập, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra chậm trễ kéo dài trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đồng thời nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư, hạn chế tình trạng bàn giao mặt bằng không đồng bộ, manh mún, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và làm phát sinh chi phí.

Về tổ chức thi công, đến thời điểm báo cáo, Dự án thành phần 1 mới khởi công 1/20 gói thầu xây lắp là gói XL-01, thực hiện trên đoạn Km117+020 - Km117+900, dài khoảng 880 m.

Trên hiện trường, nhà thầu đã cơ bản bóc lớp đất hữu cơ, đang đắp nền K95 và hoàn thành các cống tròn. Tuy nhiên, chiều dài 880 m chỉ phản ánh phạm vi đoạn đã khởi công, tương đương khoảng 0,71% chiều dài tuyến 124,13 km, không phải tỷ lệ khối lượng xây lắp hoàn thành. Theo cơ quan thẩm tra, phạm vi triển khai như vậy còn hẹp so với yêu cầu cơ bản hoàn thành Dự án trong năm 2026.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ đánh giá cụ thể khả năng hoàn thành Dự án theo đúng tiến độ đã được Quốc hội quyết định. Trường hợp không bảo đảm tiến độ, Chính phủ cần khẩn trương báo cáo Quốc hội xem xét, cho ý kiến về điều chỉnh tiến độ hoàn thành Dự án, không để tình trạng chậm trễ kéo dài.

Đồng thời, Chính phủ được đề nghị thiết lập cơ chế điều phối chung, xác định rõ đầu mối, tiến độ liên thông và trách nhiệm của từng cơ quan chủ quản; giao một đầu mối theo dõi tiến độ tích hợp toàn Dự án, quản lý các giao diện kỹ thuật, xác định đường găng và mốc hoàn thành của từng Dự án thành phần.

Một vấn đề đáng lưu ý khác tại Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành là tiến độ giải ngân vốn của Dự án thành phần 1 đang rất chậm.

Theo Báo cáo số 488/BC-CP ngày 4/8/2026 của Chính phủ, năm 2025, Dự án thành phần 1 được bố trí 6.842 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương nhưng không giải ngân.

Toàn bộ 6.842 tỷ đồng bố trí trong năm 2026 là nguồn vốn được kéo dài từ năm 2025, không phải vốn bổ sung mới, và đến thời điểm báo cáo tỷ lệ giải ngân vẫn ở mức 0%.

Như vậy, trải qua 2 kỳ kế hoạch vốn, Dự án thành phần 1 trên thực tế được bố trí 6.842 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương nhưng chưa giải ngân được đồng nào. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân chung của toàn Dự án năm 2025 đạt 29,89% kế hoạch vốn được giao; đến thời điểm báo cáo năm 2026 mới đạt 7,12% kế hoạch vốn năm 2026.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá việc Dự án thành phần 1 không giải ngân vốn ngân sách trung ương trong năm 2025 và tiếp tục chưa giải ngân đến thời điểm báo cáo năm 2026 là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.

Đề xuất tăng vốn nhà nước

Tại Báo cáo số 488/BC-CP ngày 4/8/2026, Chính phủ cho biết, do các yếu tố bất ổn về địa chính trị thế giới dẫn đến giá nhiên liệu, vật liệu tăng cao, tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư và phương án tài chính của Dự án thành phần 1, cùng một số nguyên nhân khác, UBND TP. Đồng Nai đã kiến nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án.

Cụ thể, tại Tờ trình số 36/TTr-UBND ngày 11/6/2026 gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính, UBND TP. Đồng Nai đề nghị xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án, trong đó đề xuất điều chỉnh sơ bộ tổng mức đầu tư và tăng tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước tham gia nhưng không vượt quá 70% sơ bộ tổng mức đầu tư của Dự án thành phần 1 để tiếp tục triển khai Dự án, cùng một số nội dung liên quan khác.

Liên quan đến việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án thành phần 1, ngày 3/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1201/QĐ-TTg về việc thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước để thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh Dự án.

Chính phủ cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương liên quan phối hợp đẩy nhanh tiến độ thẩm định, bảo đảm chất lượng và đúng quy định pháp luật; đồng thời chủ động chuẩn bị các bước tiếp theo để ngay sau khi Quốc hội thông qua chủ trương điều chỉnh sẽ hoàn thiện thủ tục theo quy định, sớm triển khai thi công, bảo đảm hoàn thành Dự án theo kế hoạch đề ra.

Về công tác giải phóng mặt bằng, Chính phủ cho biết, so với thời điểm báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, các địa phương đã quyết liệt chỉ đạo và đạt được một số kết quả tích cực.

Cụ thể, đoạn qua TP. Đồng Nai đã bàn giao cho nhà đầu tư 63/101,03 km, mặt bằng sạch cơ bản đạt 90% diện tích chiếm dụng; riêng đoạn qua tỉnh Lâm Đồng dài 23,1 km đang tiến hành bàn giao mặt bằng.

Chính phủ cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương giải quyết những vướng mắc phát sinh để đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án; có hình thức xử lý đối với những nhiệm vụ không hoàn thành theo kế hoạch.

Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư phải bảo đảm công khai, minh bạch, không để xảy ra xung đột, khiếu kiện phức tạp, tạo sự đồng thuận trong nhân dân; đồng thời tăng cường quản lý nhà nước, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện và phòng ngừa vi phạm.

Tin liên quan
Tin khác