Kinh tế biển chưa tương xứng với lợi thế quốc gia biển
Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức là một trong những hoạt động trọng tâm hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026.
Phát biểu khai mạc hội thảo tổ chức chiều ngày 5/6, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế biển đã từng bước được hoàn thiện, góp phần thúc đẩy nhiều ngành kinh tế biển phát triển.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu. “Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, diện tích biển khoảng 1 triệu km² cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo. Tuy nhiên, đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế vẫn còn hạn chế”, ông nói.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, một trong những nguyên nhân quan trọng là những điểm nghẽn về thể chế và công tác quản lý nhà nước.
“Còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại hội thảo. |
Ông dẫn chứng sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cũng như các quy định liên quan đến nhiều bộ, ngành khác nhau. Tình trạng này khiến việc triển khai các dự án kinh tế biển gặp khó khăn, làm phát sinh thủ tục và gia tăng chi phí cho doanh nghiệp.
Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hiện là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các nút thắt thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho những ngành kinh tế biển mới.
“Việc sửa luật không chỉ nhằm hoàn thiện văn bản pháp lý mà phải giải quyết được các vướng mắc thực tiễn, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới”, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh.
Ông cho biết, quá trình khảo sát và hợp tác quốc tế cho thấy Việt Nam còn rất nhiều dư địa phát triển trong các lĩnh vực kinh tế biển mới. Đáng chú ý, nhiều khu vực biển được đánh giá có tiềm năng lớn về khoáng sản chiến lược với giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó là các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, khai thác tài nguyên biển sâu và du lịch biển.
Đối với du lịch biển, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng tiềm năng hiện vẫn chưa được khai thác hiệu quả.
“Chúng ta có nhiều nơi rất đẹp, không thua kém các điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng quốc tế, nhưng cơ chế phát triển và thu hút đầu tư vẫn còn hạn chế”, ông chia sẻ.
Tại hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giới thiệu một số nội dung lớn trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời lấy ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp để tiếp tục hoàn thiện chính sách.
Từ quản lý biển sang quản trị biển hiện đại
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, qua đó khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.
Một trong những điểm mới quan trọng là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển. Theo cơ quan soạn thảo, biển không chỉ là nơi chứa tài nguyên mà còn là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, gắn với kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.
Dự thảo luật cũng bổ sung cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo hướng phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia. Đây được xem là giải pháp quan trọng để xử lý các xung đột trong sử dụng biển khi cùng một khu vực có thể đồng thời phát sinh nhu cầu phát triển điện gió ngoài khơi, giao thông hàng hải, nuôi biển, du lịch hoặc bảo tồn sinh thái.
Một thay đổi đáng chú ý khác là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo lần đầu nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và xây dựng hồ sơ hải chính.
Theo ông Toản, những cơ chế này sẽ góp phần hạn chế tình trạng “xin - cho”, tăng tính minh bạch và tạo môi trường pháp lý ổn định cho nhà đầu tư.
| Nuôi hải sản trên vịnh Vân Phong, Khánh Hòa. |
Dự thảo luật cũng đề xuất các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đối với những ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung và các mô hình kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp. Cùng với đó là định hướng cải cách thủ tục hành chính theo hướng liên thông, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Ở góc độ môi trường, dự thảo luật chuyển mạnh từ tư duy xử lý ô nhiễm sau sự cố sang phòng ngừa từ sớm, từ nguồn; đồng thời tăng cường kiểm soát rác thải biển, rác thải nhựa đại dương, ô nhiễm xuyên biên giới và phục hồi hệ sinh thái biển.
Nhiều chuyên gia cho rằng, điểm cốt lõi của lần sửa luật này là chuyển từ tư duy “quản lý biển” sang “quản trị biển”.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam nhận định, vấn đề quan trọng hiện nay là xử lý hiệu quả các xung đột giữa quản lý và phát triển không gian biển. Theo ông, biển là không gian ba chiều với nhiều mục đích sử dụng khác nhau, do đó cần chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành để hài hòa lợi ích giữa các hoạt động kinh tế.
Ông cũng cho rằng quy hoạch không gian biển cần được nghiên cứu theo hướng hiện đại hơn, bắt đầu từ vùng bờ và mở rộng ra toàn bộ không gian biển, đồng thời cần làm rõ các công cụ quản lý dành cho địa phương.
Đồng quan điểm, TS. Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, quản lý theo ngành khiến các lĩnh vực tối ưu hóa lợi ích riêng, dẫn đến chồng chéo trong khai thác không gian biển và phát sinh nhiều vấn đề môi trường.
“Quản lý theo ngành khiến thiếu một cái nhìn tổng thể”, ông phân tích. Theo TS Sơn, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và coi kinh tế biển là động lực mới, việc sửa luật phải hướng tới mục tiêu kiến tạo phát triển, thay vì chỉ tăng cường quản lý. “Nhà nước không chỉ giữ kỷ cương mà còn phải nâng đỡ sự phát triển”, ông nhấn mạnh.
Từ thực tiễn địa phương, ông Cao Văn Cường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cho biết, dù kinh tế biển được xác định là một trong những động lực phát triển quan trọng, việc thu hút khu vực tư nhân vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Liên kết giữa các địa phương ven biển còn hạn chế, nguồn lực đầu tư còn khiêm tốn và đời sống ngư dân cần được quan tâm nhiều hơn.
Trong khi đó, đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam kiến nghị cần sớm hoàn thiện cơ chế xác lập quyền sử dụng khu vực biển, có chính sách miễn, giảm tiền thuê mặt biển và xây dựng cơ chế tín dụng phù hợp để người dân, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nuôi biển công nghiệp quy mô lớn.
Những ý kiến tại hội thảo cho thấy, dư địa phát triển kinh tế biển của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực sự, yêu cầu đặt ra không chỉ là sửa đổi một đạo luật, mà còn là thay đổi tư duy từ quản lý sang quản trị, từ kiểm soát sang kiến tạo phát triển. Khi những điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ, không gian biển sẽ không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn trở thành không gian phát triển mới cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.