Trong đó, khối sức khỏe nằm trong nhóm có mức thu cao, riêng ngành Y khoa phổ biến 65-88 triệu đồng/năm và tại một số trường, tổng học phí 6 năm nếu giữ nguyên mức hiện tại có thể tiến tới hoặc vượt 1 tỷ đồng.
Sau mùa tuyển sinh với cuộc cạnh tranh điểm số căng thẳng, học phí trở thành bài toán tiếp theo đối với nhiều tân sinh viên và gia đình. Hơn 100 trường đại học trên cả nước đã công bố mức thu năm học 2026-2027, cho thấy một bức tranh ngày càng phân hóa giữa các trường, nhóm ngành và chương trình đào tạo.
| Khối ngành sức khỏe tiếp tục nằm trong nhóm có chi phí đào tạo cao do đặc thù gắn với thực hành, thực tập lâm sàng và yêu cầu đầu tư lớn cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ chuyên môn. |
Mức học phí hiện dao động từ khoảng 14 triệu đồng đến gần 200 triệu đồng mỗi năm. Phần lớn các trường điều chỉnh tăng khoảng 5-10% so với khóa tuyển sinh trước. Sự khác biệt càng rõ nét giữa các loại hình đào tạo. Những chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, chất lượng cao, liên kết hoặc chuyển tiếp quốc tế tiếp tục nằm trong nhóm có học phí cao nhất, một số chương trình tiến gần mức 200 triệu đồng/năm.
Trong khi đó, vẫn có những ngành học duy trì mức thu dưới 20 triệu đồng/năm, tương đương khoảng 1,4-2 triệu đồng mỗi tháng. Nhóm này chủ yếu tập trung ở một số lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, sư phạm, nông - lâm - thủy sản và một số ngành quản lý.
Giữa bức tranh phân hóa đó, khối ngành sức khỏe tiếp tục nằm trong nhóm có chi phí đào tạo cao do đặc thù gắn với thực hành, thực tập lâm sàng và yêu cầu đầu tư lớn cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ chuyên môn.
Riêng ngành Y khoa, thống kê tại gần 30 cơ sở đào tạo năm 2026 cho thấy học phí phổ biến khoảng 65-88 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các trường rất lớn, từ 39 triệu đồng đến 180 triệu đồng/năm.
Ở nhóm có mức thu cao, Đại học Quốc tế Hồng Bàng dự kiến thu 180 triệu đồng/năm. Đại học Tân Tạo ở mức 150 triệu đồng. Một số cơ sở khác cũng có học phí từ 100 triệu đồng trở lên như Đại học Phenikaa 120 triệu đồng, Đại học Nam Cần Thơ khoảng 100 triệu đồng. Đại học Duy Tân có mức 108,5 triệu đồng áp dụng trong năm 2026 với các khóa trước.
Đại học Nguyễn Tất Thành có mức học phí năm trước khoảng 154,1 triệu đồng. Đại học Văn Lang chưa công bố chi tiết học phí năm nay, song mức thu tham khảo năm 2024 đối với ngành Y khoa khoảng 160-200 triệu đồng, chưa tính học kỳ hè.
Ở chiều ngược lại, Đại học Y khoa Vinh có mức học phí 39 triệu đồng/năm, thấp nhất trong số các trường đã công bố mức thu năm nay trong thống kê. Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương thu 47,89 triệu đồng và Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng ở mức 50 triệu đồng.
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam dự kiến thu 58 triệu đồng/năm, Đại học Trà Vinh 63,8 triệu đồng và Đại học Võ Trường Toản khoảng 64,6 triệu đồng.
Tại nhóm trường Y lớn, mức học phí chủ yếu nằm trong khoảng 65-88 triệu đồng. Đại học Y Hà Nội dự kiến thu 70 triệu đồng/năm đối với ngành Y khoa. Trường cũng dẫn đầu về điểm chuẩn ngành này năm 2026 với 28,5 điểm.
Đại học Y Dược TP.HCM có học phí 88 triệu đồng/năm, điểm chuẩn 27,95. Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội thu 70 triệu đồng/năm, với điểm chuẩn Y khoa 27,43.
Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế dự kiến thu 70 triệu đồng/năm. Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch khoảng 81 triệu đồng, Đại học Y Dược Cần Thơ 71,05 triệu đồng, Đại học Y Dược Hải Phòng và Đại học Y Dược Thái Bình cùng ở mức 65 triệu đồng. Trường Đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM có mức học phí khoảng 82 triệu đồng.
Ở nhóm ngoài công lập, bên cạnh những trường có mức thu vượt 100 triệu đồng, một số cơ sở giữ học phí gần với khoảng phổ biến của ngành như Đại học Phan Châu Trinh 88 triệu đồng, Đại học Hòa Bình 85 triệu đồng, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội 66,28 triệu đồng và Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột 65 triệu đồng.
Khoảng cách học phí lớn khiến lựa chọn trường Y không còn chỉ phụ thuộc vào điểm chuẩn. Khả năng tài chính để theo đuổi toàn bộ quá trình đào tạo cũng trở thành yếu tố quan trọng đối với thí sinh và gia đình.
Y khoa có thời gian đào tạo kéo dài 6 năm. Nếu chỉ thực hiện phép tính đơn giản trên mức học phí hiện tại và giả định không thay đổi trong toàn khóa, trường có học phí 70 triệu đồng/năm sẽ tương ứng khoảng 420 triệu đồng trong 6 năm.
Ở mức 150 triệu đồng/năm, con số tăng lên khoảng 900 triệu đồng. Với mức 180 triệu đồng/năm, tổng học phí 6 năm có thể đạt khoảng 1,08 tỷ đồng.
Khoản tiền thực tế mà một gia đình phải chuẩn bị có thể còn lớn hơn bởi mức học phí có khả năng được điều chỉnh trong những năm tiếp theo, chưa kể chi phí sinh hoạt, giáo trình, học tập và những khoản phục vụ quá trình thực hành, đào tạo.
Không chỉ Y khoa, mặt bằng học phí đại học nói chung cũng đang thay đổi cùng tiến trình tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Đối với trường đại học công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, mức trần học phí năm học 2026-2027 dao động từ 1,71 triệu đến 3,5 triệu đồng mỗi sinh viên mỗi tháng, tùy nhóm ngành đào tạo.
Với các cơ sở thực hiện tự chủ tài chính, mức thu có thể cao hơn. Trường tự bảo đảm chi thường xuyên được phép thu tối đa gấp hai lần mức trần của cơ sở chưa tự chủ, trong khi trường tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư có thể áp dụng mức tối đa bằng 2,5 lần mức trần theo quy định.
Từ năm học 2027-2028, việc điều chỉnh trần học phí được xem xét trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng chi trả của người dân nhưng không vượt quá tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ năm trước.
Cơ chế học phí theo tín chỉ hoặc mô-đun cũng được xác định trên nguyên tắc tổng học phí toàn khóa dựa trên mức học phí tháng, thời gian đào tạo và khối lượng tín chỉ hoặc mô-đun của chương trình, nhằm bảo đảm tổng mức thu theo tín chỉ không vượt quá học phí tính theo niên chế.
Cùng với lộ trình tự chủ, mức học phí giữa các trường và các chương trình ngày càng khác biệt. Tại Hà Nội, học phí ở các trường đại học công lập tự chủ phổ biến trong khoảng 28-90 triệu đồng/năm, trong khi mức thu theo tín chỉ dao động từ 454.100 đồng đến khoảng 1,603 triệu đồng. Chương trình chuẩn, chất lượng cao, liên kết quốc tế hay đào tạo hoàn toàn bằng tiếng Anh có mức thu khác nhau đáng kể.
Tại khu vực phía Nam, nhiều chương trình đại trà và chương trình chuẩn của các trường thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM duy trì mức học phí từ hơn 30 triệu đến khoảng 40 triệu đồng/năm.
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên có mức thu từ hơn 32 triệu đến 70 triệu đồng/năm tùy ngành và chương trình. Trường Đại học Kinh tế - Luật có mức khoảng 35,8 triệu đồng đối với chương trình tiếng Việt, 55 triệu đồng với chương trình Co-op tiếng Anh bán phần và 73,5 triệu đồng với chương trình đào tạo hoàn toàn bằng tiếng Anh.
Tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin, học phí dự kiến từ 41,8 triệu đến 140 triệu đồng/năm tùy chương trình. Sự phân hóa học phí phản ánh khác biệt về mô hình tự chủ, lĩnh vực đào tạo, mức đầu tư và loại hình chương trình. Tuy nhiên, khi chi phí giáo dục đại học tăng, bài toán đặt ra không chỉ là nguồn lực cho các trường mà còn là khả năng tiếp cận giáo dục của người học.
Nhiều trường vì vậy đang đồng thời mở rộng học bổng, miễn giảm học phí, tín dụng và các chương trình hỗ trợ tài chính.
Trường Đại học Công Thương TP.HCM dành hơn 55,7 tỷ đồng cho quỹ học bổng năm học 2026-2027. Trường Đại học Tài chính - Marketing bố trí khoảng 92 tỷ đồng mỗi năm; Trường Đại học Mở TP.HCM công bố quỹ học bổng gần 53 tỷ đồng, trong khi Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM dành khoảng 70 tỷ đồng hỗ trợ sinh viên thuộc diện chính sách và có hoàn cảnh khó khăn.
Một số mô hình hỗ trợ mới cũng được triển khai. Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM có chương trình bảo lãnh vay học phí, trong đó sinh viên được bảo lãnh 100% học phí học kỳ chính và được cộng đồng cựu sinh viên hỗ trợ phần lãi suất sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Hiện chính sách học bổng của Phenikaa được thiết kế theo nhiều nhóm. Bên cạnh học bổng chung dành cho sinh viên tất cả các ngành, được xét dựa trên kết quả học tập và năng lực của thí sinh với các mức khác nhau, trường dành thêm chính sách ưu đãi cho khối STEM như hỗ trợ học phí, ký túc xá và tạo điều kiện để sinh viên tham gia các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu cùng giảng viên.
Đối với các chương trình đào tạo tài năng ở những lĩnh vực như khoa học máy tính, bán dẫn, vật liệu..., mức hỗ trợ cao hơn, trong đó sinh viên có thể được miễn toàn bộ học phí, bố trí chỗ ở ký túc xá, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu khoa học, thí nghiệm và được các giảng viên có chuyên môn cao trực tiếp đồng hành trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Trên phạm vi cả nước, hiện theo quy định, có hai nhóm sinh viên được xem xét cấp học bổng Chính phủ. Nhóm thứ nhất gồm thí sinh đạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế.
Nhóm thứ hai gồm thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông trong tổ hợp xét tuyển gồm môn Toán và hai trong số bốn môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh đạt từ 22,5 điểm trở lên, không tính điểm ưu tiên, điểm cộng hay điểm quy đổi. Đồng thời, thí sinh phải thuộc nhóm 30% có kết quả cao nhất trong cùng nhóm ngành trên phạm vi cả nước.
Mức hỗ trợ học bổng dự kiến khoảng 3,7-8,4 triệu đồng/tháng tùy đối tượng và trình độ. Đây là một trong những chính sách có thể tạo thêm động lực để người học giỏi lựa chọn các ngành vốn có yêu cầu học tập cao, thời gian đào tạo dài hoặc trước đây chưa tạo đủ sức hút từ thị trường.
Những lĩnh vực được kỳ vọng hưởng lợi gồm khoa học cơ bản, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân, đường sắt, năng lượng mới, công nghệ biển và các ngành chiến lược khác.