Phát triển bền vững
Khơi dậy sức mạnh mềm từ công nghiệp văn hóa
Hạnh Phúc - 06/06/2026 08:51
Các chuyên gia cho rằng hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực sáng tạo và thúc đẩy chuyển đổi số là chìa khóa để tạo bứt phá cho công nghiệp văn hóa.

Từ nguồn lực văn hóa đến khát vọng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa trên toàn cầu, câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH) tại Việt Nam đang được đặt ra với những yêu cầu mới. Đây cũng là nội dung xuyên suốt tại Hội thảo khoa học “Triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW - Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số” do Báo Văn hóa phối hợp với Trường Đại học Văn hóa TP.HCM tổ chức ngày 5/6.

Theo TS. Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa, Trưởng Ban tổ chức nhấn mạnh, các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ cùng chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác lập rõ vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.

TS. Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa phát biểu tại Hội thảo.

Theo ông Nguyễn Anh Vũ, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những hướng đi quan trọng nhằm chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Ông cũng thẳng thắn nhìn nhận, dù có nhiều tiềm năng, công nghiệp văn hóa vẫn phát triển chưa tương xứng. Những rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở thể chế, ở sự thiếu đồng bộ của chính sách và khoảng cách giữa tốc độ phát triển công nghệ với khả năng thích ứng của hệ thống quản lý.

Cùng quan điểm, PGS.TS Huỳnh Văn Tới, thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học Văn hóa TP.HCM cho rằng, trên thế giới, công nghiệp văn hóa đã trở thành ngành kinh tế chiến lược dựa trên sáng tạo, tri thức và công nghệ. Giá trị cốt lõi của lĩnh vực này nằm ở ý tưởng sáng tạo, dữ liệu, thương hiệu và tài sản trí tuệ thay vì tài nguyên thiên nhiên.

Theo ông Huỳnh Văn Tới, Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên hệ thống di sản phong phú, bản sắc văn hóa đa dạng, nguồn nhân lực trẻ cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số. Đặc biệt, công nghệ đang mở ra cơ hội lớn cho số hóa di sản, xây dựng các sản phẩm văn hóa sáng tạo và mở rộng khả năng tiếp cận công chúng trong nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên, những lợi thế ấy vẫn chưa được chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế tương xứng.

Tháo gỡ những nút thắt về thể chế và nguồn nhân lực

Tại phiên thảo luận “Khơi thông nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng Việt Nam hiện đang có đầy đủ các điều kiện để bước vào một giai đoạn phát triển mới của công nghiệp văn hóa.

Theo bà, lợi thế lớn nhất là kho tàng tài nguyên văn hóa được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử, tạo nên nền tảng độc bản cho các sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó là cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động trẻ từ 15 đến 35 tuổi, giàu năng lượng sáng tạo, nhạy bén với công nghệ và sẵn sàng đón nhận xu hướng mới.

Các đại biểu tham gia thảo luận.

Sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng số cũng đang mở ra cơ hội để các sản phẩm văn hóa vượt qua ranh giới địa lý, tiếp cận thị trường toàn cầu.

Dẫu vậy, bà Nguyễn Thị Thu Phương nhận định: “Chúng ta đang ở trạng thái sẵn sàng nhưng chưa thực sự tạo được cú hích”. Theo bà, một trong những nguyên nhân quan trọng là những điểm nghẽn thể chế. Trong khi nhiều lĩnh vực đã xây dựng được cơ chế đầu tư tương đối rõ ràng thì đầu tư cho văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng. Hệ thống chính sách chưa theo kịp thực tiễn, chưa tạo đủ không gian cho cộng đồng sáng tạo phát huy năng lực.

Ở góc độ quản lý, bà Phương cho rằng tư duy phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đang chuyển từ tiếp cận ngành văn hóa sang tiếp cận hệ sinh thái sáng tạo, gắn với dữ liệu, nền tảng số, đổi mới sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia.

Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay là khoảng cách ngày càng gia tăng giữa tốc độ biến đổi của môi trường sáng tạo số với năng lực thích ứng của hệ thống quản trị văn hóa truyền thống.

“Việc triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ đơn thuần sang xây dựng thể chế đủ khả năng kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo trong cả môi trường thực và môi trường số”, bà Phương nhấn mạnh.

Bên cạnh thể chế, chất lượng nguồn nhân lực cũng được xem là một nút thắt lớn. PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM cho biết công nghệ hiện nay thay đổi rất nhanh, khiến giáo trình đào tạo luôn đứng trước áp lực phải cập nhật liên tục. Để thích ứng, nhà trường đang chuyển mạnh sang mô hình đào tạo gắn với tư duy đổi mới, khả năng tự học suốt đời và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp.

Theo ông Lâm Nhân, Việt Nam là quốc gia đi sau trong phát triển công nghiệp văn hóa nhưng đây cũng là cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tránh những sai lầm mà các nước đi trước đã gặp phải.

Tuy nhiên, ông lưu ý: “Bất cứ sản phẩm công nghiệp văn hóa nào cũng phải dựa trên nền tảng văn hóa của chính mình. Đứng trên đôi chân của mình thì mới có thể phát triển bền vững”.

Ở lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn và điện ảnh, TS. Phạm Huy Quang, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM chỉ ra một nghịch lý đáng suy ngẫm.

Theo ông, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, có danh hiệu nghề nghiệp cao quý và kinh nghiệm thực tiễn phong phú rất phù hợp để tham gia giảng dạy. Tuy nhiên, quy định hiện hành yêu cầu giảng viên đại học phải có trình độ từ thạc sĩ trở lên khiến các trường gặp khó khăn trong việc mời những chuyên gia thực chiến tham gia đào tạo.

Không dừng lại ở đó, các yêu cầu về học vị như tiến sĩ cũng khiến nhiều cơ sở đào tạo chưa thể mở thêm những ngành học mới mà thị trường đang rất cần như sản xuất phim hay lý luận phê bình điện ảnh.

Từ thực tế này, TS. Phạm Huy Quang đề xuất cần có cơ chế đặc thù cho lĩnh vực nghệ thuật, đồng thời đầu tư phát triển nhân lực từ gốc bằng việc đưa nghệ thuật vào trường học ngay từ bậc phổ thông.

Cần một tư duy đầu tư mới cho văn hóa

Nếu thể chế và nhân lực là những nút thắt hữu hình thì tư duy đầu tư lại được xem là rào cản mang tính nền tảng.

Theo đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận bằng một cách tiếp cận khác với các ngành kinh tế truyền thống. Đầu tư cho văn hóa không phải lĩnh vực có thể tạo ra lợi nhuận tức thời, nhưng giá trị lan tỏa đối với thương hiệu quốc gia, du lịch, xuất khẩu và sức hấp dẫn của đất nước là rất lớn.

Ông dẫn kinh nghiệm từ Hàn Quốc, nơi văn hóa đã trở thành động lực thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển.

Từ góc nhìn của người làm nghề, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng đề xuất cần sớm xây dựng các quỹ hỗ trợ nghệ sĩ trẻ, quỹ học bổng và quỹ du học dành riêng cho các tài năng nghệ thuật nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận môi trường sáng tạo quốc tế.

Ông cũng cho rằng cần mở rộng cơ hội hợp tác với các đoàn làm phim, các dự án văn hóa quốc tế để nguồn nhân lực trong nước có thêm điều kiện học hỏi quy trình làm việc chuyên nghiệp.

Đặc biệt, theo ông, môi trường quản lý cần cởi mở hơn với các thử nghiệm sáng tạo. “Văn hóa không chỉ là gìn giữ mà còn là sáng tạo. Muốn có cái mới thì phải chấp nhận thử nghiệm. Có thể thành công hoặc thất bại, nhưng đó là điều cần thiết để tìm ra những giá trị mới”, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng chia sẻ.

Trong khi đó, ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả cho rằng để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới dựa trên nền tảng số, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ xây dựng hạ tầng công nghệ, phát triển nền tảng phân phối trong nước, số hóa dữ liệu văn hóa đến đào tạo nguồn nhân lực liên ngành.

Theo ông, đội ngũ nhân lực trong tương lai cần hướng tới mô hình vừa có năng lực sáng tạo nghệ thuật vừa làm chủ công nghệ. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý về bản quyền, tăng cường bảo hộ tài sản trí tuệ và thúc đẩy liên kết giữa công nghiệp văn hóa với du lịch, truyền thông, thương mại điện tử nhằm tạo ra các chuỗi giá trị kinh tế mới.

Hơn 70 tham luận được gửi tới hội thảo đều cho thấy một điểm chung: Việt Nam đang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc, lực lượng sáng tạo trẻ và cơ hội lớn từ chuyển đổi số. Song để biến những lợi thế ấy thành sức mạnh mềm quốc gia và động lực tăng trưởng kinh tế, điều cần thiết nhất lúc này là tháo gỡ những “điểm nghẽn” về thể chế, nhân lực và tư duy phát triển.

Khi văn hóa được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, được đầu tư dài hạn và được trao không gian sáng tạo rộng mở, công nghiệp văn hóa mới có thể bứt phá, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế sáng tạo Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Tin liên quan
Tin khác