Viện, trường “kẹt cửa”
Hành trình đưa kết quả nghiên cứu khoa học từ phòng thí nghiệm ra thị trường vẫn chưa “xuôi chèo mát mái”. Số lượng công bố khoa học, bằng sáng chế và nhiệm vụ khoa học, công nghệ ngày càng tăng, nhưng khoảng cách giữa “có kết quả nghiên cứu” và “có sản phẩm bán được” vẫn còn lớn.
Tại cuộc họp cuối tháng 9/2026 về định giá quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường khoa học, công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế mang tính hệ thống.
Những điểm nghẽn này không chỉ nằm trên giấy tờ chính sách, mà đang hiện hữu trong câu chuyện của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp - những chủ thể trực tiếp tham gia vào hành trình đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
| Những điểm nghẽn về cơ chế đang kéo dài khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường |
PGS-TS. Phạm Trần Vũ, Phó hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP.HCM), chia sẻ trường hợp một sản phẩm nghiên cứu đã hoàn thiện, được đăng ký bản quyền và có doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận để thương mại hóa. Tuy nhiên, quá trình chuyển giao bị “tắc” vì đề tài sử dụng ngân sách nhà nước, kết quả nghiên cứu bị xem là tài sản công.
Các bên không tìm được cơ chế rõ ràng để định giá, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích. Doanh nghiệp không thể chờ đợi thủ tục kéo dài nên bỏ cuộc, còn kết quả nghiên cứu tiếp tục nằm trong ngăn kéo.
Theo ông Vũ và nhiều nhà khoa học trực tiếp tham gia hoạt động R&D, khi kết quả nghiên cứu từ ngân sách nhà nước bị coi là tài sản công, việc khai thác, chuyển nhượng và chia sẻ lợi ích trở nên phức tạp.
Doanh nghiệp nếu không tham gia và bỏ vốn ngay từ đầu thường thiếu cam kết sâu, trong khi nhà trường e ngại rủi ro trách nhiệm khi phải quyết định việc định giá. Điểm nghẽn này có nguy cơ lặp lại ở nhiều viện nghiên cứu và trường công lập, khi khung chính sách về quản lý, khai thác và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ chưa theo kịp thực tiễn đổi mới sáng tạo.
Ở một góc độ khác, PGS-TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, đặt câu hỏi: “Vì sao nhiều kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam vẫn chưa thể đi vào thị trường, mặc dù đội ngũ nhà khoa học có năng lực chuyên môn và nhiều công trình đạt giá trị học thuật?”.
Theo bà, rào cản lớn nhất không nằm ở năng lực của nhà khoa học, mà ở cơ chế, chính sách. Nhiều nhiệm vụ khoa học vẫn hình thành theo hướng “từ những gì nhà nghiên cứu có”, thay vì “từ những gì xã hội và doanh nghiệp cần”. Sau nghiệm thu, lại thiếu cơ chế hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm quy mô lớn và kết nối nhà đầu tư. Vì vậy, nhiều kết quả khó vượt qua được giai đoạn phòng thí nghiệm.
Bà An cho rằng, nguyên nhân đầu tiên xuất phát ngay từ khâu xác định đề tài nghiên cứu. Nhiều nhiệm vụ khoa học chưa được hình thành từ nhu cầu thực tiễn của thị trường mà chủ yếu theo cơ chế phân bổ nhiệm vụ và nguồn kinh phí hiện có. Khi đầu vào không gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội thì đầu ra cũng khó tìm được nơi ứng dụng.
Một hạn chế khác là nguồn lực đầu tư còn phân tán. Kinh phí nghiên cứu thường được chia nhỏ cho nhiều đề tài, trong khi nhiều nhiệm vụ cần được đầu tư đủ lớn và theo đuổi đến cùng mới có thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Không ít công trình sau khi nghiệm thu chỉ dừng lại ở kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà chưa có điều kiện hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm hoặc phát triển thành sản phẩm thương mại.
“Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở năng lực của các nhà khoa học, mà ở cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học, công nghệ. Các cơ quan quản lý vẫn còn tâm lý e ngại rủi ro nên chưa mạnh dạn giao những nhiệm vụ lớn cho các nhóm nghiên cứu có năng lực, đồng thời chưa tập trung nguồn lực cho những đề tài có khả năng tạo ra sản phẩm. Thay vào đó, kinh phí thường được phân bổ dàn trải để nhiều đơn vị cùng tham gia, dẫn đến thiếu những dự án được đầu tư đủ chiều sâu”, bà An thẳng thắn.
Doanh nghiệp cũng loay hoay
Ông Hồ Viết Vẻ, Tổng giám đốc Công ty TNHH SiGen kể, doanh nghiệp ông từng chi hơn 600 triệu đồng để thử nghiệm chuyển một chi tiết từ kim loại sang nhựa, đồng thời tổ chức 15 hội thảo khoa học với chi phí hơn 1,5 tỷ đồng để kết nối.
Với cá nhân, nhóm nghiên cứu hoặc doanh nghiệp sở hữu nhiều bằng sáng chế nhưng chưa thương mại hóa được sản phẩm, khoản phí duy trì hiệu lực hằng năm có thể trở thành gánh nặng. Chủ sở hữu khi đó phải lựa chọn giữa tiếp tục bảo vệ sáng chế hoặc từ bỏ quyền do chưa nhìn thấy khả năng khai thác trên thị trường.
Từ góc nhìn startup, ông Trần Anh Tuấn, đại diện startup Lemit Foods cho rằng, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở Việt Nam có “đầu” - là ý tưởng, có “chân” - là thị trường, nhưng “thân” lại rất yếu.
“Các ý tưởng thường chỉ dừng lại ở giai đoạn bản thử nghiệm (prototype hay MVP) vì chúng ta đang thiếu các không gian thử nghiệm (testbed, living lab). Do thiếu cơ sở vật chất ở giai đoạn sản xuất thử nghiệm (OEM Pilot), startup rất khó để tích hợp sản phẩm của mình vào các dây chuyền sản xuất toàn cầu”, ông Tuấn cho biết.
Như vậy, khoảng trống thương mại hóa không chỉ xuất hiện ở thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ. Nó kéo dài từ khâu xác định nhu cầu nghiên cứu, phát triển công nghệ, thử nghiệm, sản xuất thử đến tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường.
Cần một “đường cao tốc” thay vì những “đường vòng”
Để thúc đẩy hợp tác “3 nhà”, PGS-TS. Phạm Trần Vũ hiến kế, cần thay đổi cách tiếp cận chính sách. Trước hết, Nhà nước nên chuyển từ tư duy “đặt hàng sản phẩm” sang “tài trợ nghiên cứu”. Khi coi ngân sách là tài trợ, các ràng buộc hành chính và áp lực đầu ra sẽ giảm, tạo không gian linh hoạt hơn cho nhà khoa học.
Đặc biệt, theo ông Vũ, cần làm rõ khung pháp lý về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa, nhằm giải phóng các kết quả nghiên cứu khỏi “vùng xám” của tài sản công.
Đồng quan điểm, PGS-TS. Bùi Thị An cho rằng, cần có cơ chế hỗ trợ để sản phẩm khoa học vượt qua giai đoạn từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Bên cạnh việc đặt hàng các nhiệm vụ khoa học gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cần có cơ chế bảo lãnh hoặc hỗ trợ tiêu thụ đối với các sản phẩm khoa học mới để doanh nghiệp mạnh dạn tiếp nhận và ứng dụng.
“Nếu không có một ‘bàn đỡ’ của Nhà nước thì rất khó để sản phẩm khoa học đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường”, bà An nhấn mạnh.
Trong khi đó, TS. Ngô Đắc Thuần, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần IP Group, đề xuất thành lập một bộ phận hỗ trợ đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ (Innovation and IP Helpdesk) để tra cứu, phân tích tính mới của công nghệ trên thế giới. Việc này có thể giúp hạn chế tình trạng cấp vốn cho các đề tài trùng lặp, sau khi nghiệm thu lại cất vào “ngăn kéo”.
Ông Thuần cho rằng, một sáng chế có giá trị cần hội tụ ba yếu tố: nội dung khoa học vững chắc; khả năng bảo hộ đủ mạnh để bảo vệ trước cạnh tranh và đặc biệt là khả năng tạo ra dòng tiền trong tương lai. Trong thực tế, nhiều sáng chế mới chỉ tập trung vào yếu tố khoa học mà chưa chú trọng đầy đủ đến chiến lược bảo hộ và thương mại hóa.
Bên cạnh đó, cần nâng cao tính hệ thống trong hoạt động sáng chế, bảo đảm tính liên tục và định hướng rõ ràng theo chiến lược công nghệ. Đồng thời, cần đẩy mạnh đăng ký sáng chế quốc tế tại các thị trường tiềm năng, qua đó không chỉ bảo vệ quyền lợi mà còn mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp.
Tại cuộc họp cuối tháng 9/2026, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, xử lý các điểm nghẽn trong định giá quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường và sàn giao dịch khoa học, công nghệ, thương mại hóa kết quả nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước.
Trọng tâm là làm rõ những quy định chưa đồng bộ, xác định loại tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và quy định việc thương mại hóa phải qua sàn để bảo đảm tính minh bạch. Phó thủ tướng cũng yêu cầu nghiên cứu tháo gỡ vướng mắc đối với các sàn giao dịch khoa học, công nghệ; đề xuất tỷ lệ tối thiểu các nhiệm vụ có doanh nghiệp tham gia từ năm 2027.
Đường cao tốc đó trước hết cần được xây dựng bằng việc làm rõ quyền tài sản, hoàn thiện cơ chế định giá, xây dựng cơ sở dữ liệu giao dịch và chuyên nghiệp hóa các tổ chức trung gian. Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ đầu của quá trình hình thành và phát triển công nghệ, thay vì chỉ xuất hiện ở khâu cuối cùng để tiếp nhận sản phẩm.