Người lao động quan tâm nhiều hơn tới thu nhập thực nhận
Thị trường lao động Hà Nội đang ghi nhận nhu cầu tuyển dụng lớn, song doanh nghiệp ngày càng đặt yêu cầu cao hơn về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và khả năng đảm nhiệm các vị trí có hàm lượng kỹ thuật.
Theo Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, riêng tháng 8, các doanh nghiệp trên địa bàn có nhu cầu tuyển khoảng 38.000 lao động. Qua khảo sát 13.424 chỉ tiêu tuyển dụng từ 2.545 thông tin tuyển dụng, nhóm bán buôn, bán lẻ và các hoạt động dịch vụ khác chiếm tới 60,3% tổng nhu cầu.
Cơ cấu tuyển dụng cho thấy xu hướng doanh nghiệp ưu tiên nhân lực có trình độ. Nhóm nhà quản lý chiếm 6,8%, bên cạnh nhu cầu đáng kể đối với nhà chuyên môn bậc cao, bậc trung và các vị trí trợ lý văn phòng.
Xét theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động có bằng cao đẳng, đại học trở lên chiếm hơn một nửa nhu cầu tuyển dụng. Đây là nhóm được doanh nghiệp tìm kiếm để đảm nhiệm các vị trí chuyên môn, kỹ thuật, quản lý và những công việc đòi hỏi năng lực xử lý nghiệp vụ cao.
Trong khi đó, lao động chưa qua đào tạo và công nhân kỹ thuật chiếm gần 30% nhu cầu. Dù tỷ trọng thấp hơn nhóm nhân lực trình độ cao, lực lượng này vẫn cần thiết đối với các dây chuyền sản xuất, nhà xưởng, thi công hạ tầng và nhiều hoạt động dịch vụ trực tiếp.
| Với tỷ lệ 48,6% người tìm việc mong muốn mức lương 10 - 20 triệu đồng và 53,3% nhu cầu tuyển dụng cũng nằm trong khoảng này, thị trường đang xuất hiện một vùng giao nhau khá rõ về kỳ vọng thu nhập. |
Theo số liệu khảo sát, 53,3% chỉ tiêu tuyển dụng đưa ra mức lương từ 10 - 20 triệu đồng/tháng. Nhóm 5 - 10 triệu đồng chiếm 36,9%, còn các vị trí có thu nhập trên 20 triệu đồng chiếm 9,6%. Một số ngành nghề kỹ thuật tiếp tục ghi nhận mức thu nhập cao hơn như kỹ sư, công nhân tay nghề cao và thợ lái máy chuyên nghiệp có thể nhận từ 16 - 35 triệu đồng/tháng tùy vị trí, trình độ và yêu cầu công việc.
Về phía người tìm việc, khoảng lương kỳ vọng cũng tập trung mạnh vào nhóm 10 - 20 triệu đồng. Khảo sát gần 5.000 hồ sơ cho thấy 48,6% người lao động mong muốn nhận mức lương trong khoảng này. Đây chủ yếu là nhóm đã có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm và kỳ vọng mức thu nhập tương xứng với năng lực.
Có 43,3% ứng viên đặt kỳ vọng ở mức 5 - 10 triệu đồng/tháng. Nhóm này thường gồm lao động phổ thông, người mới tốt nghiệp hoặc ứng viên tìm kiếm các công việc hành chính, dịch vụ cơ bản.
Tỷ lệ mong muốn thu nhập trên 20 triệu đồng chỉ ở mức 7,8%. Đây chủ yếu là nhóm quản lý, lãnh đạo, chuyên gia hoặc nhân sự có nhiều năm kinh nghiệm.
So sánh hai phía cho thấy khoảng lương từ 5 đến 20 triệu đồng tiếp tục là khu vực sôi động nhất của thị trường. Với doanh nghiệp, đây cũng là dải thu nhập cần tính toán kỹ nếu muốn thu hút lượng ứng viên đủ lớn và duy trì tính cạnh tranh trong tuyển dụng.
Từ thực tế làm việc tại một khu công nghiệp ở Bắc Ninh, công nhân Đ.V.H cho rằng mức lương được ghi trong thông báo tuyển dụng chưa phản ánh toàn bộ thu nhập mà người lao động quan tâm.
Theo anh H., lao động sản xuất thường tính đến tổng số tiền thực nhận mỗi tháng sau khi cộng lương cơ bản, phụ cấp, tăng ca, thưởng chuyên cần và các khoản hỗ trợ.
“Nếu tổng thu nhập khoảng 10-15 triệu đồng/tháng, công việc ổn định, có tăng lương theo tay nghề thì nhiều công nhân vẫn có thể gắn bó. Với người đã có gia đình, mức dưới 10 triệu đồng khá khó xoay xở khi phải trả tiền nhà, tiền ăn, nuôi con và các khoản sinh hoạt khác. Người có tay nghề thì thường kỳ vọng cao hơn vì họ cũng phải mất thời gian học nghề, tích lũy kinh nghiệm”, anh Đ.V.H chia sẻ.
Anh H. cho rằng bên cạnh tiền lương, người lao động hiện quan tâm nhiều hơn tới thời gian làm việc, chế độ tăng ca, môi trường nhà xưởng, bảo hiểm và khả năng duy trì việc làm ổn định.
Đây cũng là yếu tố khiến quá trình tuyển dụng ngày càng khó giải quyết bằng riêng mức lương. Cùng một mức thu nhập, doanh nghiệp có môi trường tốt, phúc lợi rõ ràng và cơ hội nâng bậc tay nghề thường có lợi thế hơn khi giữ người.
Nghịch lý “thừa lượng, thiếu chất”
Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội nhận định thị trường đang phân hóa khá rõ. Người tìm việc tập trung nhiều ở hai nhóm: lao động có trình độ chuyên môn cao và lao động chưa có bằng cấp, chứng chỉ nghề. Trong khi đó, doanh nghiệp cần ngày càng nhiều nhân sự vừa có chuyên môn, vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ năng cụ thể của từng vị trí.
Nguồn cung lao động phổ thông và nhân viên văn phòng ở một số phân khúc đang cao hơn nhu cầu thực tế. Trái lại, lao động kỹ thuật có tay nghề, nhân sự chuyên môn tốt và những người đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng cao vẫn thiếu.
Thực tế này tạo nên nghịch lý “thừa lượng, thiếu chất”, số người tìm việc không nhỏ nhưng doanh nghiệp vẫn khó tuyển đủ người phù hợp. Bức tranh cũng cho thấy tăng thu nhập cần đi song song với nâng kỹ năng. Với nhóm lao động phổ thông, nếu không bổ sung kỹ năng nghề hoặc chuyển lên các vị trí có giá trị gia tăng cao hơn, khả năng tiếp cận mức lương 10 - 20 triệu đồng sẽ bị hạn chế.
Phía doanh nghiệp, yêu cầu tuyển dụng ngày càng cao cũng đặt ra bài toán đào tạo tại chỗ. Nếu chỉ tìm kiếm ứng viên đã hoàn chỉnh về chuyên môn và kinh nghiệm, khoảng thiếu hụt nhân lực kỹ thuật có thể tiếp tục kéo dài.
Sự dịch chuyển của cơ cấu tuyển dụng cho thấy thị trường lao động đang thưởng cao hơn cho kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng tạo ra giá trị. Các vị trí kỹ thuật, vận hành máy móc, quản lý sản xuất, công nghệ hoặc chuyên môn sâu thường có mức lương tốt hơn, nhưng đồng thời yêu cầu ứng viên đáp ứng chứng chỉ nghề, kinh nghiệm, khả năng làm việc độc lập và kỷ luật công nghiệp.
Khi doanh nghiệp cần người có kỹ năng cao nhưng nguồn cung phù hợp chưa đủ, bài toán lao động sẽ chuyển từ “có bao nhiêu người tìm việc” sang “bao nhiêu người đáp ứng được công việc”. Đây cũng là yếu tố quyết định liệu mức lương 10 - 20 triệu đồng có trở thành cơ hội thực tế với số đông người lao động hay chỉ tập trung ở nhóm đã có chuyên môn, tay nghề và kinh nghiệm.