Kinh doanh
Quảng Ninh - Từ “điểm đến đầu tư” đến hệ sinh thái kinh tế tư nhân bền vững - Bài 2
Quỳnh Nga - 14/08/2026 15:27
Từ nền tảng cải cách, hạ tầng và môi trường kinh doanh, Quảng Ninh đang tạo dư địa để kinh tế tư nhân nâng cao hiệu quả và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng. Vị trí top 3 BPI 2025 là một chỉ dấu rõ nét cho quá trình này.

Bài 2: Hình thành hệ sinh thái kinh tế tư nhân có tính cộng hưởng

Dẫn đầu cả nước về tỷ lệ doanh nghiệp có liên kết chuỗi trong BPI 2025, Quảng Ninh đang cho thấy một chuyển động mới của khu vực kinh tế tư nhân: từ phát triển đơn lẻ sang tăng cường liên kết, mở rộng khả năng tham gia chuỗi giá trị và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.

Từ nền tảng tăng trưởng đến liên kết chuỗi 

Nếu BPI 2025 phản ánh một bước tiến về chất của khu vực kinh tế tư nhân Quảng Ninh, thì nền tảng cho quá trình này đã được kiến tạo trong hơn một thập niên qua.

Năm 2025, Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng GRDP, đạt 11,89% - mức cao nhất trong giai đoạn 2020 - 2025. Đằng sau kết quả này là quá trình chuyển đổi mô hình phát triển từ “nâu” sang “xanh”, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, cải cách thể chế và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển.

Quảng Ninh cũng là địa phương đi sớm trong việc sử dụng đầu tư công để dẫn dắt đầu tư tư nhân, phát triển hạ tầng giao thông chiến lược, mở rộng không gian đô thị, khu công nghiệp, cảng biển, cửa khẩu và các trung tâm dịch vụ. Những nền tảng này từng bước tạo điều kiện để các dòng vốn tư nhân tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển kinh tế.

Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long mở rộng năng lực đón khách quốc tế, tạo thêm động lực liên kết giữa du lịch, dịch vụ và kinh tế biển của Quảng Ninh.

Quy mô GRDP năm 2025 của Quảng Ninh ước đạt khoảng 395.000 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2020. Thu ngân sách nhà nước năm 2025 đạt trên 84.500 tỷ đồng; tính chung giai đoạn 2021-2025, tổng thu ngân sách đạt trên 274.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy nền kinh tế đã có bước phát triển đáng kể về quy mô, đồng thời tạo thêm nguồn lực để tiếp tục đầu tư và mở rộng không gian tăng trưởng.

Trong bức tranh đó, kết quả BPI 2025 đem đến một chỉ dấu đáng chú ý. Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tỷ lệ doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi, đạt 68,2%. Đây không chỉ là một con số về mức độ liên kết, mà còn cho thấy khu vực doanh nghiệp đang từng bước chuyển từ phát triển riêng lẻ sang tìm kiếm sự kết nối trong sản xuất, kinh doanh và thị trường.

Nếu trước đây sức hấp dẫn của một địa phương thường được nhìn qua số dự án, quy mô vốn hay số doanh nghiệp thành lập mới, thì ở giai đoạn phát triển mới, mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp ngày càng có ý nghĩa. Một doanh nghiệp có thể tăng trưởng nhanh hơn khi tiếp cận được thị trường, nguồn cung, công nghệ, vốn và các đối tác trong cùng chuỗi giá trị.

Ngược lại, khi doanh nghiệp phát triển đơn lẻ, khả năng mở rộng quy mô và chống chịu trước biến động thị trường sẽ hạn chế hơn. Liên kết vì thế không chỉ giúp doanh nghiệp tìm thêm cơ hội kinh doanh, mà còn tạo điều kiện chia sẻ nguồn lực, giảm chi phí, nâng chuẩn quản trị và từng bước tham gia vào những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.

Nhìn từ yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho rằng Quảng Ninh đang có nhiều lợi thế để mở rộng không gian tăng trưởng, từ vị trí chiến lược, hệ thống hạ tầng giao thông, quỹ đất công nghiệp đến khả năng kết nối với Hải Phòng, Hà Nội và Trung Quốc. Nền tảng cải cách hành chính, quản trị và hạ tầng số cũng tạo tiền đề cho các động lực tăng trưởng mới.

Theo ông Lực thì khu vực doanh nghiệp và hộ kinh doanh vẫn còn nhiều dư địa để phát triển tương xứng hơn với quy mô nền kinh tế. Vì thế Quảng Ninh cần tiếp tục đa dạng hóa các động lực tăng trưởng, đáp ứng những yêu cầu mới về chuyển đổi năng lượng, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo ông, đây cũng là cơ sở để Quảng Ninh định hình các trụ cột tăng trưởng mới, gồm công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao và công nghiệp xanh; du lịch, kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa; kinh tế biển, logistics, thương mại biên giới và dịch vụ cảng; cùng kinh tế số - xanh, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ chất lượng cao.

Đáng chú ý, cùng với việc xác lập các động lực tăng trưởng mới, ông Lực cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp lớn và khu vực FDI. Đầu tư công cũng cần được thúc đẩy theo hướng có chất lượng, tạo hiệu ứng lan tỏa cho khu vực tư nhân.

Đây cũng là vấn đề mới, quan trọng đặt ra cho Quảng Ninh trong giai đoạn tiếp theo. Khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh có thể tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng của doanh nghiệp lớn và khu vực FDI, giá trị tạo ra sẽ không chỉ nằm ở từng doanh nghiệp mà có khả năng lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.

Mở rộng không gian liên kết cho doanh nghiệp

Theo ông Bùi Văn Khắng, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng và giữ vai trò ngày càng lớn trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế. Quảng Ninh vẫn đang hướng tới trở thành cực tăng trưởng năng động của phía Bắc, phát triển dựa trên kinh tế biển, logistics, du lịch chất lượng cao, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.

“Quảng Ninh không chỉ là điểm đến đầu tư an toàn mà đang hướng tới trở thành vùng đất tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, sinh lời và bứt phá”, ông Khắng nhấn mạnh.

Trong định hướng đó, sự liên kết giữa các ngành kinh tế đang tạo ra những hiệu ứng lan tỏa rõ hơn. Du lịch - dịch vụ là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ xu hướng này. Từ chỗ lưu trú, vận tải, lữ hành, vui chơi giải trí, ẩm thực hoạt động tương đối độc lập, các sản phẩm du lịch ngày càng được kết nối theo hướng tạo thành trải nghiệm tổng thể.

Sự kết nối giữa nghỉ dưỡng, vui chơi, ẩm thực, mua sắm, vận chuyển và kinh tế đêm không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm mà còn mở rộng khả năng giữ chân du khách, gia tăng mức chi tiêu và đưa dòng tiền lan tỏa sang nhiều ngành dịch vụ khác.

Ở lĩnh vực công nghiệp và logistics, hiệu ứng tương tự đang hình thành từ sự phát triển đồng bộ của cao tốc, cảng biển, khu công nghiệp và hệ thống cửa khẩu. Hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện gắn kết sản xuất, logistics và xuất nhập khẩu, đồng thời mở rộng khả năng tham gia của doanh nghiệp dịch vụ vào chuỗi cung ứng.

Sự phát triển của các khu công nghiệp mở thêm cơ hội để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các chuỗi sản xuất, cung ứng và dịch vụ.

Ông Nguyễn Văn Nhân, Tổng Giám đốc Amata City Hạ Long, cho rằng quyết định mở rộng đầu tư của doanh nghiệp hiện nay không chỉ dựa trên ưu đãi mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng kết nối thị trường và chất lượng môi trường phát triển.

“Khi hạ tầng giao thông ngày càng đồng bộ, thời gian vận chuyển được rút ngắn, doanh nghiệp tiết giảm đáng kể chi phí logistics. Điều đó tạo niềm tin để tiếp tục đầu tư dài hạn”, ông Nhân chia sẻ.

Từ góc độ này, hạ tầng không chỉ tạo lợi thế để thu hút dự án mới mà còn góp phần giữ chân các nhà đầu tư hiện hữu, đồng thời tạo thêm không gian để doanh nghiệp logistics, thương mại và công nghiệp hỗ trợ tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất - dịch vụ.

Sự hiện diện của các nhà đầu tư lớn như Sun Group, Vingroup, BIM Group, Geleximco, Tập đoàn Tuần Châu, Amata, Foxconn hay Jinko Solar đang góp phần hình thành những chuỗi liên kết mới. Khi các dự án quy mô lớn được triển khai, nhu cầu về logistics, thương mại, dịch vụ, công nghiệp hỗ trợ và các nhà cung ứng tại chỗ cũng mở rộng, tạo thêm cơ hội cho khu vực doanh nghiệp trong nước.

Đây cũng là cách dòng vốn lớn có thể tạo hiệu ứng lan tỏa rộng hơn. Các tập đoàn và doanh nghiệp FDI tạo ra thị trường, nhu cầu và tiêu chuẩn mới; trong khi doanh nghiệp trong nước có thêm cơ hội tham gia cung ứng, cung cấp dịch vụ, mở rộng thị trường và từng bước nâng cao năng lực.

Cùng với những chuỗi liên kết hình thành quanh các dự án lớn, nhu cầu kết nối trực tiếp giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng rõ nét. Tại chương trình kết nối giao thương B2B Quảng Ninh 2026 do Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh tổ chức mới đây, gần 300 phiên kết nối giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ thể OCOP và các đối tác đã được thực hiện.

Các hoạt động kết nối trực tiếp giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết, qua đó mở thêm dư địa tham gia các chuỗi giá trị.

Quy mô của chương trình cho thấy doanh nghiệp không chỉ cần một môi trường kinh doanh thuận lợi mà còn cần những không gian cụ thể để tìm kiếm đối tác, mở rộng đầu ra, kết nối nguồn cung và cùng phát triển sản phẩm. Từ tìm kiếm đầu vào, đầu ra đến hợp tác phát triển sản phẩm, những cuộc gặp trực tiếp như này tạo thêm các chuỗi cho mạng lưới doanh nghiệp địa phương.

Các dự án lớn tạo ra thị trường và nhu cầu mới, thì sự chủ động kết nối của cộng đồng doanh nghiệp giúp mở rộng khả năng hấp thụ những cơ hội đó. Đây là một mắt xích quan trọng để khu vực kinh tế tư nhân trong nước từng bước nâng mức độ liên kết, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị trong nền kinh tế Quảng Ninh.

Và khi dòng vốn đầu tư được coi là điểm khởi đầu thì giá trị lớn hơn  sẽ nằm ở khả năng để những dự án mới đó kéo theo các ngành dịch vụ, doanh nghiệp cung ứng và các mối quan hệ hợp tác mới; từ đó hình thành mạng lưới liên kết rộng hơn trong nền kinh tế.

BPI 2025 với tỷ lệ 68,2% doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi cho thấy nền tảng này đã bắt đầu hình thành. Nhưng để biến liên kết thành sức mạnh tăng trưởng, Quảng Ninh vẫn cần tiếp tục nâng chất lượng các mối quan hệ hợp tác, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Khi doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và khu vực FDI có thể cùng tham gia vào những chuỗi liên kết rộng hơn, sức mạnh cộng hưởng sẽ trở thành một động lực mới cho tăng trưởng của Quảng Ninh.

Tin liên quan
Tin khác