| Các doanh nghiệp có thể đưa xăng E10 vào lưu hành sớm hơn mốc quy định là ngày 1/6/2026 (Ảnh: Đức Thanh) |
Xăng E10 sắp “phủ sóng”
Theo Thông tư 50/2025/TT-BCT của Bộ Công thương (Thông tư 50) về lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với xăng truyền thống tại Việt Nam, từ ngày 1/6, xăng E10 sẽ được bán rộng rãi trên cả nước. Xăng E5 RON92 vẫn tiếp tục được sử dụng đến hết năm 2030.
Trước bối cảnh nguồn cung xăng dầu gặp khó do chiến sự Trung Đông kéo dài gần 1 tháng qua, gây rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng, việc đẩy nhanh công tác chuẩn bị để đưa xăng E10 ra thị trường sớm hơn mốc quy định đang được các doanh nghiệp và đơn vị liên quan rốt ráo thực hiện.
Là doanh nghiệp đầu mối chiếm thị phần lớn trong hệ thống phân phối xăng dầu cả nước, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết, đã chuẩn bị hạ tầng kho bể, hệ thống phối trộn và mạng lưới bán lẻ theo đúng lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học theo quy định.
- Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam
Hiện nay, Petrolimex có 7 điểm kho sẵn sàng thực hiện pha chế xăng E10 trên cả nước, cùng mạng lưới hơn 2.800 cửa hàng xăng dầu. Doanh nghiệp đã xúc rửa bể chứa, chuẩn bị điều kiện hạ tầng cần thiết và xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp.
Ông Hồ Ngọc Linh, Phó trưởng phòng Kỹ thuật xăng dầu Petrolimex khẳng định: “Chúng tôi phấn đấu đẩy tiến độ sớm hơn so với lộ trình của Thông tư 50”.
Ngoài việc chuẩn bị hạ tầng kho bể và cửa hàng, Petrolimex đã cử các đoàn cán bộ đi học tập kinh nghiệm tại Thái Lan, Philippines, Mỹ và một số quốc gia khác để nghiên cứu mô hình tổ chức kinh doanh, vận tải và bảo đảm chất lượng xăng E10 khi cung ứng ra thị trường.
Làm việc với Tổ công tác về an ninh năng lượng về các giải pháp tiếp tục bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương tiếp tục chỉ đạo các giải pháp nhằm bảo đảm nguồn dầu thô nhập khẩu; triển khai sớm sản xuất, sử dụng xăng E10.
Tại thời điểm này, ethanol nhập khẩu từ nước ngoài cũng đã được một số đầu mối lớn tăng cường đàm phán, một số đơn hàng đã và đang nhập khẩu về Việt Nam.
Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam (VINPA) tính toán, nếu mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 26 - 26,5 triệu m3 xăng dầu, thì với tỷ lệ phối trộn 10%, lượng nhiên liệu hóa thạch được thay thế là rất đáng kể.
“Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn lại 70% phải nhập khẩu. Vì vậy, mọi chương trình giúp giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đều có ý nghĩa chiến lược”, đại diện VINPA nhấn mạnh.
Thực tế, Chương trình nhiên liệu sinh học đã được Chính phủ định hướng từ rất sớm, từ giai đoạn 2011 - 2012, thông qua các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giảm khí thải và phát triển nhiên liệu sinh học. Trong các năm 2014 - 2015, Việt Nam đã triển khai xăng E5 đồng bộ trên phạm vi cả nước.
“Với tỷ lệ phối trộn 5% hay 10% như E5, E10, B5, B10, điều tôi muốn nhấn mạnh là Việt Nam có thể giảm mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch”, Chủ tịch VINPA Bùi Ngọc Bảo nói.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với một nền kinh tế vẫn có tỷ trọng nông nghiệp lớn như Việt Nam, bởi Chương trình nhiên liệu sinh học không chỉ tạo đầu ra cho nông sản như sắn, ngô, mà còn góp phần củng cố liên kết giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến.
Bên cạnh yếu tố an ninh năng lượng, việc triển khai xăng E10 còn gắn với các cam kết giảm phát thải của Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Theo các chuyên gia, nhiên liệu sinh học như E10 có thể giúp giảm lượng khí CO2 phát thải so với xăng khoáng truyền thống, qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu trung hòa carbon mà Việt Nam đã cam kết tại các diễn đàn quốc tế.
Được biết, VINPA cùng với các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp lớn như Petrolimex, Saigon Petro, PVOIL… hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ trong quá trình triển khai lộ trình E10, mục tiêu bảo đảm lộ trình ngày 1/6/2026 không gặp trở ngại từ phía doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, VINPA cũng đang làm việc với các cơ quan quản lý để rà soát hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, bởi ethanol có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau, trong khi quy chuẩn hiện hành vẫn chủ yếu được xây dựng trên cơ sở sản xuất trong nước. Nếu không điều chỉnh kịp thời, đây có thể là điểm nghẽn trong quá trình triển khai.
Ông Bùi Ngọc Bảo khẳng định, khi triển khai lộ trình phối trộn ethanol theo Thông tư 50, sẽ không gặp trở ngại lớn về công nghệ, cũng không quá lo về nguồn cung. Bản chất của E10 không phải là một sản phẩm mới với thế giới, mà Việt Nam là nước đi sau, có thể học hỏi kinh nghiệm từ các nước đã triển khai nhiều năm.
Đa dạng hóa nguồn cung
Hiện nguyên liệu để phối trộn xăng sinh học E10 phụ thuộc gần 70% vào nhập khẩu. Để tránh bị động nguồn cung, bảo đảm đủ sản lượng phối trộn, các giải pháp chiến lược đang được triển khai gồm: tăng cường sản xuất trong nước và đàm phán hợp đồng nhập khẩu dài hạn, đa dạng hóa nguồn cung.
Theo báo cáo của các thương nhân kinh doanh xăng dầu, tổng lượng xăng tiêu thụ năm 2025 khoảng 11,37 triệu m3. Nếu từ ngày 1/6/2026 chuyển sang sử dụng xăng E10, ước tính lượng ethanol cần cho pha chế vào khoảng 1,1 triệu m3.
Việt Nam có 6 nhà máy sản xuất cồn, nhưng mới chỉ 3 nhà máy hoạt động và chưa vận hành hết công suất do trước đây thị trường chưa đủ lớn. Nếu cả 6 nhà máy hoạt động tối đa, sản lượng có thể đạt khoảng 400.000-500.000 m3, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu ethanol trong nước. Như vậy, trong giai đoạn đầu triển khai, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phần lớn ethanol.
“Khi xây dựng Thông tư 50, Bộ Công thương đã tính đến phương án này. Trên thế giới hiện có hai cường quốc xuất khẩu ethanol lớn là Mỹ và Brazil. Sau khi trừ nhu cầu nội địa, mỗi năm hai nước này còn dư khoảng 30-40 triệu m3, hoàn toàn có khả năng cung ứng cho nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam, vốn chỉ khoảng 600.000-700.000 m3/năm trong giai đoạn đầu”, ông Đỗ Minh Quân, Chuyên viên Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết.
Một phương án khác là Việt Nam có thể tiếp cận nguồn hàng qua các trung tâm phân phối trong khu vực như Hàn Quốc hoặc Singapore. Các cảng lớn như Nhà Bè, Vân Phong, Đà Nẵng hay Quảng Ninh đều có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn để nhập ethanol phục vụ nhu cầu trong nước.
“Bộ Công thương đang phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp để hỗ trợ nhập khẩu ethanol, đồng thời thúc đẩy khôi phục các nhà máy còn đóng cửa hoặc chưa vận hành hết công suất. Khi thị trường ổn định, việc mở rộng sản xuất trong nước sẽ giúp Việt Nam từng bước chủ động nguồn cung, giảm dần phụ thuộc nhập khẩu”, ông Hồ Ngọc Linh nhấn mạnh.
Với các doanh nghiệp sản xuất, việc hỗ trợ thông qua giảm thuế, phí sẽ tạo động lực lớn.
Theo ông Phạm Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Nhà Xanh Việt Nam, doanh nghiệp hiện vận hành một nhà máy sản xuất cồn tại Đồng Nai với công suất thiết kế khoảng 6.000-7.000 m3/tháng. Trong đó, cồn phục vụ pha xăng chiếm khoảng 50% công suất.
Trong tương lai, khi chính sách E10 đi vào thực tế và thị trường ổn định, doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư công nghệ, nâng cao sản lượng.
Để mở rộng vùng nguyên liệu và nâng cấp công nghệ, ông Tuấn đề xuất, Nhà nước cần quy hoạch rõ vùng trồng ngô, sắn phục vụ riêng cho các nhà máy ethanol; đồng thời đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi để giảm chi phí logistics.
“Nhà nước có thể xem xét miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5-10 năm cho các doanh nghiệp sản xuất ethanol. Đồng thời, do thuế nhập khẩu ethanol hiện ở mức 5%, doanh nghiệp mong muốn duy trì mức thuế này để bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, ethanol dùng pha xăng hiện chủ yếu bán theo hình thức đấu thầu, gây khó khăn cho việc xây dựng kế hoạch dài hạn. Doanh nghiệp mong muốn cơ chế giá linh hoạt hơn, gắn với giá nguyên liệu và giá ethanol quốc tế.
Còn VINPA thì kiến nghị sớm ban hành nghị định mới thay thế các nghị định hiện hành về kinh doanh xăng dầu. Khi cơ chế kinh doanh được đổi mới theo hướng thị trường hơn, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong xác lập nguồn cung, đàm phán hợp đồng và tính toán giá thành. Điều này rất quan trọng khi E10 được triển khai đồng bộ từ ngày 1/6/2026.
Thêm nữa, doanh nghiệp cần có chính sách thuế ổn định và hợp lý. Đơn cử, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường đối với E5, E10 cần được thiết kế đơn giản, rõ ràng, không quá phức tạp trong cách tính từng mẻ phối trộn; đồng thời phải tháo gỡ nút thắt về thuế nhà thầu đối với hàng hóa gửi tại kho ngoại quan. Nếu không xử lý được điểm này, rất khó hình thành các hub ethanol lớn tại Việt Nam.