Kinh doanh
Sản lượng xi măng của Vicem đến 2030 phải chiếm 38% sản lượng toàn ngành
Thế Hải - 02/07/2026 14:04
Đến năm 2030, sản lượng sản xuất xi măng toàn Vicem, bao gồm các doanh nghiệp liên doanh sản xuất xi măng Nghi Sơn, Chinfon, Siam City Cement mà Vicem tham gia góp vốn đạt khoảng 38% sản lượng sản xuất toàn ngành.
Vicem được giao tăng sản lượng sản xuất xi măng lên mức 38% sản lượng toàn ngành vào 2030.

Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định số 1075/QĐ-BXD giao nhiệm vụ và một số chỉ tiêu cơ bản đối với Chiến lược phát triển của Tổng công ty Xi măng Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030.

Mục tiêu tổng quát là xây dựng Vicem trở thành doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, thương hiệu mạnh, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong ngành xi măng Việt Nam, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh tại thị trường khu vực và quốc tế. 

Vicem phải phát triển theo định hướng tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn; tăng cường sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu thay thế; giảm phát thải khí nhà kính; thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Đến năm 2030, cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty mẹ Vicem được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phấn đấu giảm tối thiểu 30% số lượng đầu mối thuộc cơ quan điều hành; giảm cấp trung gian, rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh.

Đến năm 2030, sản lượng sản xuất xi măng của toàn Vicem (bao gồm các doanh nghiệp liên doanh sản xuất xi măng Nghi Sơn, Chinfon, Siam City Cement mà Vicem tham gia góp vốn) đạt khoảng 38% sản lượng sản xuất xi măng của toàn ngành.

Sản lượng tiêu thụ xi măng trong nước tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030.

Thị phần tiêu thụ xi măng trong nước của Vicem năm 2030 đạt khoảng 30%; trường hợp tính gộp sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp liên doanh sản xuất xi măng mà Vicem tham gia góp vốn thì đạt khoảng 42%.

Bộ Xây dựng đồng thời yêu cầu Vicem tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh vật liệu xây dựng, phục vụ thực hiện Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Một trong những định hướng đáng chú ý trong giai đoạn phát triển mới là việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Vicem từ phát triển về quy mô sang phát triển theo chiều sâu.

Thay vì tập trung vào mở rộng sản lượng như giai đoạn trước, Vicem sẽ ưu tiên nâng cao năng suất lao động, cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ công nghệ, chất lượng quản trị doanh nghiệp và tối ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên trong toàn hệ thống.

Đối với 10 doanh nghiệp sản xuất xi măng (gồm: Vicem Hải Phòng, Vicem Hoàng Thạch, Vicem Tam Điệp, Vicem Sông Thao, Vicem Hải Vân, Xi măng Bỉm Sơn, Vicem Bút Sơn, Vicem Hoàng Mai, Vicem Hà Tiên, Xi măng Hạ Long), cơ bản giữ ổn định mô hình tổ chức tại các đơn vị này.  Thực hiện tinh gọn đầu mối bên trong, nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh.

Giữ ổn định mô hình tổ chức; tăng cường vai trò, trách nhiệm Người đại diện phần vốn của Vicem, nâng cao hiệu quả đầu tư, bảo toàn và phát triển vốn.

Với 3 đơn vị có khó khăn tài chính gồm Vicem Hạ Long, Vicem Tam Điệp và Vicem Hải Vân, Vicem khẩn trương nghiên cứu, xây dựng phương án xử lý, cơ cấu lại vốn riêng cho từng trường hợp, bảo đảm khả thi, hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.

Về chỉ tiêu sản xuất kinh doanh giai đoạn 2026-2030, Bộ Xây dựng giao Vicem đạt tổng sản lượng tiêu thụ xi măng, clinker: 153,156 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân là 6,1%/năm. Trong đó, tiêu thụ xi măng trong nước là 140,598 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,2%/năm. 

Tổng doanh thu và thu nhập khác trong giai đoạn này là 182.337 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,6%/năm.  Tổng lợi nhuận trước thuế (chưa tính chênh lệch tỷ giá) là 8.395 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 50,3%/năm.

Ngoài ra, Vicem phải tiếp tục rà soát, cơ cấu lại các khoản đầu tư và doanh nghiệp có vốn góp của Vicem theo hướng tập trung nguồn lực cho ngành nghề kinh doanh chính; nâng cao hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn và bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp; xử lý các dự án có vướng mắc, khó khăn, tồn tại kéo dài và các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.

Tin liên quan
Tin khác