Đời sống
Tăng điểm công trình khoa học xuất sắc, mở rộng chính sách thu hút nhân tài
D.Ngân - 30/10/2026 12:30
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất bài báo đăng trên tạp chí thuộc nhóm 0,1% xuất sắc thế giới được quy đổi 20 điểm, gấp 20 lần bài báo thuộc nhóm Q4.

Một bài báo đăng trên tạp chí thuộc nhóm 0,1% xuất sắc thế giới có thể được quy đổi thành 20 điểm, cao gấp 20 lần bài báo công bố trên tạp chí thuộc nhóm Q4. Đây là một trong những nội dung đáng chú ý của Dự thảo Thông tư quy định về nhóm nghiên cứu tiềm năng, nhóm nghiên cứu mạnh trong cơ sở giáo dục đại học đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến.

Cùng với đổi mới cách đánh giá chất lượng nghiên cứu, các chính sách học bổng, hỗ trợ đào tạo đang được triển khai nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao vào những ngành khoa học, công nghệ chiến lược.

Dự thảo đưa ra khung quy đổi điểm đối với các sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, làm căn cứ để trường đại học đánh giá, công nhận nhóm nghiên cứu tiềm năng, nhóm nghiên cứu mạnh, đồng thời xem xét tiêu chuẩn của trưởng nhóm và các thành viên chủ chốt.

Điểm mới nằm ở việc phân hóa rõ giá trị của từng loại sản phẩm, tạo sự khác biệt giữa những công trình có chất lượng học thuật nổi bật với các công bố thông thường.

Cụ thể, bài báo đăng trên tạp chí thuộc nhóm 0,1% xuất sắc thế giới trong lĩnh vực chuyên môn, được xác định theo cơ sở dữ liệu Web of Science hoặc Scopus, dự kiến được tính 20 điểm.

Trong khi đó, các bài báo công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCIE, SSCI, AHCI của Web of Science được phân loại theo các nhóm Q1, Q2, Q3 và Q4 với mức điểm quy đổi từ 1 đến 5 điểm. Trong đó, công trình đăng trên tạp chí Q1 được tính 5 điểm, còn Q4 chỉ đạt 1 điểm.

Cách tính này cho phép những nhóm nghiên cứu có số lượng công bố không quá lớn nhưng sở hữu các công trình chất lượng cao vẫn có cơ hội đáp ứng tiêu chí công nhận. Đối với nhóm nghiên cứu mạnh, dự thảo quy định tổng điểm quy đổi tối thiểu 100 điểm với khối khoa học xã hội và nhân văn, 150 điểm đối với khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ.

Không giới hạn ở bài báo khoa học, khung điểm còn ghi nhận những sản phẩm có giá trị học thuật, ứng dụng và thương mại hóa. Chẳng hạn, bài viết trong sách chuyên khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành có thể được quy đổi 15 điểm. Bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng bảo hộ giống cây trồng được cơ quan có thẩm quyền của Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hoặc quốc gia thuộc nhóm G7 cấp được tính 12 điểm.

Đối với sản phẩm đã chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ hoạch định chính sách, phát triển kinh tế - xã hội, có giá trị ứng dụng và tạo tác động, mức điểm quy đổi có thể lên tới 25 điểm.

Đặc biệt, sản phẩm công nghệ chiến lược được cấp bộ hoặc cấp quốc gia đánh giá cao về mức độ sẵn sàng công nghệ có thể được quy đổi tối đa 40 điểm, cao hơn cả mức dành cho bài báo thuộc nhóm tạp chí xuất sắc nhất.

Việc dành mức điểm cao cho các sản phẩm công nghệ chiến lược, kết quả chuyển giao và thương mại hóa cho thấy định hướng đánh giá nghiên cứu không dừng ở công bố học thuật mà chú trọng hơn đến khả năng tạo ra sản phẩm có giá trị, giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Tuy nhiên, dự thảo cũng xác định điểm quy đổi chỉ là công cụ kỹ thuật phục vụ xét tiêu chuẩn, không thay thế việc thẩm định chất lượng khoa học và tác động thực tế của sản phẩm.

Thông qua cách đánh giá này, Bộ Giáo dục và Đào tạo kỳ vọng hạn chế việc chạy theo số lượng công bố, khuyến khích các nhóm tập trung nguồn lực cho những công trình có chất lượng, giá trị ứng dụng và sức ảnh hưởng lớn.

Cùng với các tiêu chí công nhận, chính sách dành cho nhóm nghiên cứu mạnh cũng tạo điều kiện mở rộng hoạt động khoa học tại trường đại học. Các nhóm đủ điều kiện được ưu tiên tham gia nhiệm vụ nghiên cứu cấp quốc gia, dự án hợp tác quốc tế, sử dụng phòng thí nghiệm trọng điểm, cử thành viên thực tập hoặc làm việc tại các tổ chức nghiên cứu nước ngoài, đồng thời được bố trí kinh phí hoạt động thường xuyên và hỗ trợ huy động nguồn lực ngoài ngân sách.

Nhóm nghiên cứu tiềm năng được xem xét đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tạo điều kiện hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và hỗ trợ nâng cao năng lực để phát triển thành nhóm nghiên cứu mạnh.

Những cơ chế này hướng tới hình thành lực lượng nghiên cứu nòng cốt trong các trường đại học, đồng thời tăng khả năng kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và nhu cầu phát triển công nghệ của nền kinh tế.

Song song với việc đổi mới cơ chế đánh giá và phát triển các nhóm nghiên cứu, chính sách thu hút người học có năng lực vào những ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ chiến lược cũng đang được chú trọng.

Còn theo Nghị định 179 của Chính phủ, sinh viên thuộc các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, nếu đáp ứng điều kiện, có thể được hỗ trợ tài chính trong quá trình học tập.

Mức hỗ trợ đối với sinh viên khoảng 3,7-5,5 triệu đồng/tháng tùy nhóm đối tượng và chương trình đào tạo. Học viên cao học có thể được hỗ trợ từ 5,5-7,4 triệu đồng/tháng, trong khi nghiên cứu sinh tiến sỹ được nhận tối đa 8,4 triệu đồng/tháng.

Tính theo 10 tháng của năm học, mức hỗ trợ tương ứng dao động khoảng 37-84 triệu đồng. Thời gian hưởng không quá 4 năm đối với chương trình cử nhân, 5 năm đối với chương trình kỹ sư; học viên thạc sỹ và nghiên cứu sinh được hỗ trợ theo thời gian đào tạo chuẩn.

Chính sách hướng tới những người học có thành tích nổi bật, trong đó có thí sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế. Một nhóm khác được xem xét là những thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp gồm môn Toán và hai trong bốn môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh đạt từ 22,5 điểm trở lên, không tính điểm ưu tiên, điểm cộng hoặc điểm quy đổi. Đồng thời, thí sinh phải thuộc nhóm 30% có kết quả cao nhất trong cùng nhóm ngành trên phạm vi cả nước.

Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhận định, chính sách học bổng có thể tạo thêm động lực để học sinh giỏi lựa chọn những ngành có yêu cầu học tập cao, thời gian đào tạo dài hoặc trước đây chưa có sức hút tương xứng với vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội.

Các lĩnh vực được kỳ vọng hưởng lợi gồm khoa học cơ bản, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân, đường sắt, năng lượng mới, công nghệ biển cùng nhiều ngành công nghệ chiến lược khác.

Kết quả tuyển sinh đại học năm 2026 bước đầu ghi nhận những chuyển biến trong lựa chọn của người học. Hơn 121.000 sinh viên đã xác nhận nhập học vào 15 nhóm ngành chiến lược, phản ánh sự quan tâm ngày càng rõ đối với những lĩnh vực gắn với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực quốc gia.

Đặc biệt, các ngành liên quan đến biển, hàng hải và đường sắt đã hình thành quy mô nhập học đáng kể, cho thấy sức hút của những lĩnh vực phục vụ các chương trình đầu tư, phát triển hạ tầng và công nghệ dài hạn.

Ông Nguyễn Tiến Thảo cho rằng, điểm nổi bật của mùa tuyển sinh năm 2026 là sự chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực theo hướng khoa học, công nghệ và những ngành đất nước đang cần. Tỷ trọng sinh viên theo học các ngành STEM tăng, trong đó một số lĩnh vực ghi nhận sức hút lớn và chất lượng đầu vào cao. Đây là tín hiệu tích cực đối với mục tiêu phát triển lực lượng lao động có trình độ chuyên môn sâu, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi công nghệ của nền kinh tế.

Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng thí sinh trong một mùa tuyển sinh chưa đủ để khẳng định xu hướng bền vững. Sức hấp dẫn của ngành học còn phụ thuộc vào chất lượng đào tạo, môi trường nghiên cứu, triển vọng việc làm và nhu cầu tuyển dụng thực tế.

Bởi vậy, cùng với hỗ trợ tài chính, việc đầu tư phòng thí nghiệm, phát triển đội ngũ giảng viên, mở rộng liên kết với doanh nghiệp và tạo cơ hội tham gia nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thu hút, bồi dưỡng nhân tài.

Đồng hành với chính sách của Chính phủ, nhiều trường đại học đã triển khai các chương trình học bổng riêng, tạo thêm điều kiện để sinh viên tiếp cận những lĩnh vực khoa học, công nghệ có yêu cầu đào tạo chuyên sâu.

Tại Đại học Phenikaa, nhà trường hiện có gần 30 chương trình đào tạo STEM thuộc danh mục được Nhà nước ưu tiên hỗ trợ, đồng thời xây dựng các cơ chế học bổng dành cho sinh viên tài năng và người học những ngành công nghệ chiến lược.

PGS-TS. Nguyễn Phú Khánh, Phó Hiệu trưởng Đại học Phenikaa cho biết, năm 2026, những chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế tư nhân và giáo dục đã tạo động lực rõ nét đối với lựa chọn ngành nghề của thí sinh. Sự quan tâm đến các ngành STEM gia tăng đáng kể, tập trung ở những lĩnh vực như chuyển đổi số, công nghệ cao, cơ điện tử, cơ khí, tự động hóa, vật liệu và hóa học.

Để thu hút người học, Phenikaa triển khai nhiều hình thức hỗ trợ, từ học phí, ký túc xá đến các hoạt động học thuật và nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, sinh viên có cơ hội tham gia nhóm nghiên cứu, làm việc tại phòng thí nghiệm cùng giảng viên ngay từ những năm đầu đại học, qua đó sớm tiếp cận phương pháp nghiên cứu và môi trường ứng dụng kiến thức chuyên môn.

Với các chương trình đào tạo tài năng trong những lĩnh vực như khoa học máy tính, bán dẫn, vật liệu, sinh viên đáp ứng điều kiện có thể được miễn toàn bộ học phí, bố trí chỗ ở ký túc xá, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu và thí nghiệm.

PGS-TS.Nguyễn Phú Khánh nhận định, sự kết hợp giữa định hướng phát triển nhân lực quốc gia với những cơ chế hỗ trợ cụ thể của cơ sở đào tạo đang góp phần gia tăng sức hút của các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, PGS-TS.Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng nhà trường cho rằng chính sách ưu đãi đối với sinh viên khối ngành kỹ thuật là một trong những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và thu hút người học.

Hiện trường có 26 ngành, chuyên ngành thuộc diện được hưởng chính sách học bổng theo Nghị định 179. Năm 2026, nhà trường tuyển 4.750 sinh viên thông qua nhiều phương thức, gồm xét kết quả thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ, kết hợp điểm thi với môn năng khiếu, sử dụng kết quả các kỳ thi đánh giá năng lực và xét tuyển thẳng.

Học phí bình quân năm học 2026-2027 khoảng 20,9 triệu đồng/năm. Trong điều kiện đó, nguồn hỗ trợ từ chính sách học bổng có thể giúp giảm đáng kể áp lực tài chính, tạo thuận lợi cho sinh viên theo đuổi những chương trình đào tạo kỹ thuật có yêu cầu học tập cao.

Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng có 18 trong tổng số 20 ngành đào tạo trình độ đại học thuộc danh mục được cấp học bổng theo Nghị định 179. Trong khi đó, đại diện Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội nhận định, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ là yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương lai.

Thực tế những năm trước, không ít học sinh giỏi, kể cả học sinh chuyên các môn khoa học tự nhiên, vẫn lựa chọn chuyển sang các lĩnh vực kinh tế hoặc những ngành khác do lo ngại áp lực học tập, thời gian đào tạo dài và triển vọng nghề nghiệp chưa đủ hấp dẫn.

Chính sách học bổng được kỳ vọng góp phần thay đổi xu hướng này, khuyến khích người học có năng lực lựa chọn khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và những ngành công nghệ chiến lược.

Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, các cơ sở đào tạo cần gắn hỗ trợ tài chính với chất lượng chương trình học, năng lực nghiên cứu, đầu tư hạ tầng và cơ hội phát triển nghề nghiệp sau tốt nghiệp.

Tin liên quan
Tin khác