Để hàng triệu học sinh cùng tiếp cận một hệ thống học liệu là bài toán không nhỏ về tổ chức in ấn, phát hành, kiểm soát chất lượng, giá sách, dự phòng cho những tình huống phát sinh, đồng thời chuẩn bị cho lộ trình miễn phí sách giáo khoa và chuyển đổi sang học liệu số trong những năm tới.
Ông Nguyễn Tiến Thanh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cho biết, yêu cầu đặt ra cho năm học mới là sách giáo khoa phải đến với học sinh đúng, đủ, kịp thời, nhưng đồng thời phải bảo đảm chất lượng và mức giá hợp lý. Đây là nhiệm vụ chịu áp lực lớn về thời gian bởi riêng quy trình đấu thầu và in sách có thể kéo dài tới 190 ngày, trong đó khoảng 100 ngày dành cho đấu thầu và 90 ngày cho in ấn. Vì vậy, ngay trước khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức lựa chọn bộ sách sử dụng thống nhất, Nhà xuất bản đã xây dựng từ 3-4 kịch bản để chủ động nguồn cung.
Đến cuối tháng 8 đã có 225 triệu bản sách giáo khoa cùng hơn 76 triệu bản sách bài tập, sách tham khảo đã được in và phát hành, vượt kế hoạch đăng ký ban đầu của các địa phương. Từ thời điểm này đến khai giảng, khoảng 10 triệu bản sách giáo khoa tiếp tục được bổ sung ra thị trường căn cứ nhu cầu thực tế từ các nhà trường và địa phương.
Hội đồng thành viên Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cũng phê duyệt kế hoạch in bổ sung 8 triệu bản nhằm tạo nguồn dự phòng, bảo đảm khả năng ứng phó trong trường hợp thiên tai, bão lũ hoặc những tình huống phát sinh khiến nhu cầu sách thay đổi.
| Công nhân tại các nhà in thao tác công đoạn cuối để đưa sách ra thị trường. (Ảnh: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cung cấp) |
Khối lượng sách lớn chưa phải thách thức duy nhất. Việc thay đổi địa giới hành chính trước đó đã tác động tới nội dung của nhiều đầu sách, kể cả những môn tưởng như ít chịu ảnh hưởng như Toán. Có 11 tên sách, chủ yếu thuộc môn Địa lý và Lịch sử, phải chỉnh sửa từ 31% đến 93% nội dung, một số gần như phải biên soạn lại toàn bộ và trải qua quy trình thẩm định của Hội đồng thẩm định quốc gia trước khi được đưa vào sử dụng. Điều này khiến khoảng thời gian chuẩn bị vốn đã gấp càng trở nên chặt chẽ hơn.
Trong khi phải bảo đảm tiến độ và chất lượng, chi phí sách giáo khoa tiếp tục là vấn đề được nhiều gia đình quan tâm. Năm nay, giá bìa sách giáo khoa giảm trung bình 13,6% so với những năm trước, cao hơn đáng kể mức giảm 3% của năm ngoái.
Ông Nguyễn Tiến Thanh cho biết, việc giảm giá được thực hiện thông qua tối ưu các khâu sản xuất, trên cơ sở vừa bảo đảm yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, vừa chia sẻ chi phí với người học và xã hội.
Nhưng câu chuyện giảm gánh nặng sách giáo khoa sẽ không dừng ở việc điều chỉnh giá bìa. Một thay đổi lớn hơn đang được chuẩn bị là chính sách miễn phí sách giáo khoa trên phạm vi toàn quốc.
Ngày 3/7, Chính phủ ban hành Nghị định số 271 quy định thực hiện miễn phí sách giáo khoa thống nhất từ năm học 2029-2030. Chủ trương nhận được sự quan tâm lớn, thậm chí một số địa phương mong muốn triển khai sớm, song để chính sách đi vào thực tế một cách đồng bộ cần giải quyết nhiều vấn đề về dự báo nhu cầu, ngân sách, mua sắm và tổ chức sử dụng sách.
Theo quy định, các địa phương phải phê duyệt dự báo nhu cầu sách giáo khoa làm căn cứ lập dự toán trước ngày 30/10 của năm trước. Trong khi Nghị định mới được ban hành đầu tháng 7/2026, khoảng thời gian còn lại không đủ để các địa phương hoàn thành toàn bộ quy trình cho năm học 2026-2027.
Mặt khác, đến cuối tháng 7, sách giáo khoa đã được phát hành tới hơn 90% học sinh. Nếu lúc này mới tổ chức đấu thầu, mua sắm để đưa sách vào trường cho học sinh mượn có thể phát sinh lãng phí và tạo chênh lệch giữa những gia đình đã mua sách với những học sinh được sử dụng sách miễn phí.
Một điểm cũng cần được làm rõ trong quá trình triển khai là "miễn phí sách giáo khoa" không đồng nghĩa mỗi học sinh được cấp một bộ sách để sở hữu. Cơ chế được xác định theo hướng Nhà nước mua sách, đưa vào thư viện trường học để học sinh mượn và có trách nhiệm bảo quản. Điều đó đồng nghĩa hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào nguồn ngân sách mà còn liên quan tới cách dự báo nhu cầu, mua sắm, xây dựng thư viện, quản lý vòng đời của sách và tổ chức cho học sinh sử dụng lại qua nhiều năm.
Nếu được chuẩn bị tốt, chính sách này không chỉ giảm một khoản chi cho các gia đình mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận học liệu giữa những nhóm học sinh có điều kiện kinh tế và địa bàn sinh sống khác nhau. Khi cả nước sử dụng thống nhất một bộ sách, vấn đề đặt ra tiếp theo là làm thế nào để một học sinh ở vùng sâu, vùng xa, khu vực thường xuyên chịu thiên tai có khả năng tiếp cận học liệu thuận lợi như học sinh tại các đô thị lớn.
Trong hơn hai năm qua, khoảng 3,7 triệu bản sách đã được Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trao tặng học sinh tại các vùng khó khăn. Với năm học này, ngoài lượng sách in phục vụ khoảng 19 triệu học sinh trên cả nước, nguồn sách dự phòng cũng được chuẩn bị để bổ sung cho những địa phương chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ. Việc dự phòng nguồn cung trở nên đặc biệt cần thiết bởi chỉ một biến động về thời tiết, giao thông hoặc nhu cầu tại địa phương cũng có thể khiến sách đến tay học sinh chậm hơn thời điểm bắt đầu năm học.
Khoảng cách tiếp cận học liệu cũng đang được mở rộng sang một không gian khác khi sách không còn chỉ tồn tại dưới dạng bản in. Phiên bản số hóa của sách giáo khoa hiện được cung cấp miễn phí trên nền tảng trực tuyến, tạo thêm một kênh để giáo viên và học sinh tiếp cận nội dung.
Cùng với đó, hoạt động tập huấn đội ngũ tổng chủ biên, tác giả và giáo viên được triển khai nhằm giúp người dạy hiểu rõ hơn triết lý biên soạn cũng như tinh thần của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bởi một bộ sách được sử dụng thống nhất chỉ tạo ra nền tảng chung về học liệu, còn chất lượng giáo dục cuối cùng vẫn phụ thuộc rất lớn vào năng lực của người dạy và cách tổ chức bài học ở từng nhà trường.
Xa hơn câu chuyện số hóa sách giấy, sách giáo khoa điện tử được kỳ vọng mở ra một phương thức học tập mới với khả năng tương tác và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, quá trình chuyển từ một tệp sách có thể đọc trên màn hình sang sách giáo khoa điện tử đúng nghĩa vẫn còn những khoảng trống về cơ chế và tiêu chuẩn.
Hiện phiên bản trực tuyến mới chủ yếu dừng ở mức số hóa nội dung từ sách giấy. Nếu bổ sung bài tập tương tác, công cụ hỗ trợ học tập hay AI, ranh giới giữa sách giáo khoa điện tử với học liệu điện tử và nền tảng dạy học trực tuyến bắt đầu trở nên khó phân định. Khi chưa xác định rõ khái niệm, phạm vi và tiêu chuẩn của từng loại sản phẩm, việc đầu tư phát triển quy mô lớn sẽ gặp khó khăn cả về pháp lý lẫn tổ chức thực hiện.
Một điểm nghẽn khác nằm ở định mức kinh tế - kỹ thuật. Phát triển nội dung số, xây dựng hệ thống tương tác và tích hợp công nghệ đòi hỏi nguồn đầu tư lớn, trong khi hiện chưa có khung định mức đầy đủ cho chi phí biên tập, sản xuất và vận hành sách giáo khoa điện tử. Với doanh nghiệp nhà nước phải bảo toàn và phát triển vốn, khoảng trống này khiến việc quyết định đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho một hệ sinh thái học liệu số trở thành bài toán cần có hành lang pháp lý rõ ràng.
Yêu cầu thực nghiệm cũng cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của sách điện tử. Nếu áp dụng quy trình tương tự sách giấy trong khi thiết bị và hạ tầng số giữa các trường học còn chênh lệch, việc tổ chức thực nghiệm trên diện rộng sẽ khó khả thi. Vì vậy, việc sớm xác lập khái niệm, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và phương thức thẩm định, thực nghiệm phù hợp được xem là điều kiện quan trọng để sách giáo khoa điện tử có thể chuyển từ ý tưởng sang một sản phẩm giáo dục được triển khai rộng rãi.
Từ bảo đảm hàng trăm triệu bản sách trước ngày khai giảng đến chuẩn bị lộ trình miễn phí và xây dựng sách giáo khoa điện tử, câu chuyện sách giáo khoa đang bước ra khỏi phạm vi của một sản phẩm phục vụ từng năm học. Khi học sinh cả nước cùng sử dụng một bộ sách, yêu cầu lớn hơn là bảo đảm mọi trẻ em, dù ở thành thị, miền núi, hải đảo hay vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng thiên tai, đều có cơ hội tiếp cận nguồn học liệu với chất lượng tương đồng.
Một bộ sách thống nhất vì thế mới chỉ tạo ra điểm khởi đầu chung. Thu hẹp khoảng cách giáo dục còn phụ thuộc vào khả năng đưa sách đến đúng nơi, đúng thời điểm, giảm gánh nặng chi phí, hỗ trợ những nhóm học sinh khó khăn và từng bước mở rộng khả năng tiếp cận học liệu số. Khi những điều kiện ấy cùng được cải thiện, sách giáo khoa mới thực sự trở thành một trong những công cụ góp phần mở rộng cơ hội học tập công bằng hơn cho học sinh trên cả nước