Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 10/3: Cảnh báo nguy hiểm từ trào lưu tiêm filler làm thẳng chân tại nhà
D.Ngân - 10/03/2026 09:08
Trào lưu tiêm filler làm thẳng chân đang được lan truyền trên mạng xã hội như một phương pháp làm đẹp nhanh chóng, ít xâm lấn.

Cảnh báo nguy hiểm từ trào lưu tiêm filler làm thẳng chân tại nhà

Tuy nhiên, các chuyên gia y tế cảnh báo đây là thủ thuật phản khoa học, tiềm ẩn nhiều nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe nếu thực hiện tại các cơ sở không được cấp phép hoặc tự ý tiêm tại nhà.

Mới đây, Khoa Da liễu và Bỏng, Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận điều trị cho một nữ bệnh nhân 29 tuổi nhập viện trong tình trạng hai cẳng chân biến dạng, xuất hiện nhiều khối sưng đỏ nghiêm trọng sau khi tiêm filler làm thẳng chân tại nhà.

Bên cạnh nguy cơ tắc mạch và hoại tử mô, việc tiêm filler tại nhà còn tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng.

Theo Ths.Hoàng Hồng Mạnh, Khoa Da liễu và Bỏng, đây là hậu quả của một chỉ định hoàn toàn sai về mặt y khoa, xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về filler cũng như sự chủ quan trước các dịch vụ thẩm mỹ “dạo” không được kiểm soát.

Theo bác sỹ Hoàng Hồng Mạnh, nhiều người lầm tưởng filler có thể “nắn chỉnh” hình dạng chân cong. Trên thực tế, filler được thiết kế để bù đắp thể tích mô mềm ở những vùng nhỏ như rãnh nhăn, thái dương hoặc cằm.

Trong khi đó, hình dáng cẳng chân cong hay thẳng chủ yếu phụ thuộc vào trục xương chày, xương mác và cấu trúc cơ - gân. Vì vậy, việc tiêm một lượng lớn filler vào mô mềm không thể làm thay đổi trục xương mà còn có nguy cơ gây biến dạng vùng tiêm, chèn ép mạch máu và dây thần kinh.

Cẳng chân là vùng giải phẫu phức tạp với nhiều mạch máu và dây thần kinh quan trọng như động mạch chày trước, động mạch chày sau cùng hệ thần kinh ngoại vi. Việc đưa một lượng lớn chất làm đầy vào khu vực này có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Filler có thể đi vào lòng mạch hoặc gây áp lực lên các mô xung quanh, làm gián đoạn quá trình tưới máu, dẫn tới tình trạng thiếu máu cục bộ, hoại tử da và mô mềm. Trong những trường hợp nặng, người bệnh có thể đối mặt với viêm cân cơ hoại tử - một tình trạng cấp cứu ngoại khoa nghiêm trọng.

Nếu không được điều trị kịp thời bằng kháng sinh mạnh và can thiệp phẫu thuật, hoại tử có thể lan rộng, thậm chí buộc phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng.

Bên cạnh nguy cơ tắc mạch và hoại tử mô, việc tiêm filler tại nhà còn tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng. Theo bác sỹ Hoàng Hồng Mạnh, môi trường sinh hoạt thông thường luôn tồn tại nhiều loại vi khuẩn nguy hiểm như tụ cầu vàng, kể cả chủng kháng thuốc MRSA, liên cầu nhóm A hoặc các vi khuẩn kỵ khí.

'Nếu tiêm filler trong điều kiện không bảo đảm vô khuẩn, các vi khuẩn này có thể xâm nhập sâu vào cơ thể, gây áp xe, viêm mô bào lan tỏa, thậm chí dẫn đến nhiễm trùng huyết.

Ngoài ra, nguy cơ sốc phản vệ cũng là vấn đề đáng lo ngại. Với những người có tiền sử dị ứng, việc tiêm filler tại nhà mà không có thuốc chống sốc, thiết bị cấp cứu và đội ngũ hồi sức có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Phản vệ có thể gây ngừng tuần hoàn chỉ trong vài phút trước khi người bệnh kịp được đưa đến cơ sở y tế.

Để tránh những biến chứng đáng tiếc, Ths.Hoàng Hồng Mạnh khuyến cáo người dân cần tuân thủ một số nguyên tắc quan trọng khi thực hiện các thủ thuật thẩm mỹ. Trước hết, cần nói không với thẩm mỹ tại nhà, bởi mọi thủ thuật xâm lấn đều phải được thực hiện tại cơ sở y tế được cấp phép, bảo đảm điều kiện vô khuẩn và có bác sỹ chuyên môn trực tiếp thực hiện.

Bên cạnh đó, những người có tiền sử dị ứng hoặc từng xuất hiện các phản ứng như khó thở, nổi mẩn sau can thiệp y tế cần được bác sỹ thăm khám và đánh giá kỹ trước khi tiến hành bất kỳ thủ thuật nào.

Ngoài ra, nếu sau khi tiêm xuất hiện các dấu hiệu bất thường như sưng đau, đỏ nóng hoặc biến dạng vùng tiêm, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa ngay lập tức để được xử trí kịp thời.

Các chuyên gia nhấn mạnh, làm đẹp là nhu cầu chính đáng của nhiều người, nhưng việc lựa chọn phương pháp làm đẹp cần dựa trên cơ sở khoa học và được thực hiện tại các cơ sở y tế uy tín.

Sự chủ quan trước những dịch vụ thẩm mỹ trôi nổi không chỉ khiến kết quả làm đẹp không như mong muốn mà còn có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe, thậm chí đe dọa tính mạng.

Chuyên gia đề xuất giải pháp giảm áp lực chi phí điều trị ung thư tại Việt Nam

Ung thư không chỉ là thách thức lớn đối với hệ thống y tế mà còn tạo ra gánh nặng kinh tế kéo dài cho nhiều gia đình. Trong bối cảnh nhu cầu tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến ngày càng tăng, bài toán chi phí và tính bền vững của nguồn lực y tế vẫn là rào cản đáng kể.

Trước thực tế đó, nhiều chuyên gia cho rằng cần thúc đẩy các giải pháp y tế bền vững nhằm mở rộng khả năng tiếp cận điều trị, đồng thời tối ưu phân bổ nguồn lực cho hệ thống y tế.

Các giải pháp cần dựa trên cơ sở đánh giá khoa học, phù hợp với thực hành lâm sàng và tuân thủ các quy định hiện hành. Một trong những hướng đi đang được quan tâm là phát triển và sử dụng thuốc sinh học tương tự trong bối cảnh nhiều thuốc sinh học đắt đỏ sắp bước vào giai đoạn hết bảo hộ độc quyền.

Tại hội thảo khoa học “Cuộc cách mạng với thuốc sinh học tương tự” do Hội Ung thư Việt Nam tổ chức tại Hà Nội và TP.HCM, các chuyên gia đã trao đổi về vai trò cũng như các điều kiện triển khai phù hợp của thuốc sinh học tương tự trong hệ thống chăm sóc ung thư.

Theo thống kê của GLOBOCAN năm 2022, Việt Nam ghi nhận 180.480 ca mắc mới và 120.184 ca tử vong do ung thư, trong đó phổ biến nhất là ung thư gan, phổi, vú và đại trực tràng. Trong khi nhu cầu tiếp cận các liệu pháp điều trị tiên tiến ngày càng gia tăng, chi phí của các thuốc sinh học vẫn là thách thức lớn đối với nhiều bệnh nhân và hệ thống y tế.

Các chuyên gia cho biết giai đoạn 2026–2032 dự kiến sẽ có tới 39 thuốc sinh học doanh số lớn hết hạn bảo hộ độc quyền, mở ra cơ hội phát triển các thuốc sinh học tương tự với chi phí hợp lý hơn. Đây được xem là một trong những hướng tiếp cận giúp đa dạng hóa lựa chọn điều trị với chi phí phù hợp hơn, qua đó hỗ trợ mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận và tăng tính bền vững cho ngân sách y tế.

Trên thế giới, nhiều cơ quan quản lý và tổ chức y tế như Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA), Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) hay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban hành các hướng dẫn liên quan đến nhóm sản phẩm này nhằm hỗ trợ công tác quản lý và sử dụng trong thực hành lâm sàng.

Nhờ chi phí hợp lý hơn, thuốc sinh học tương tự có thể góp phần cải thiện khả năng tiếp cận các liệu pháp sinh học trong một số bối cảnh phù hợp. Trong lĩnh vực ung thư, một số liệu pháp sinh học tương tự đã được ứng dụng trong điều trị ung thư đặc và ung thư huyết học, mang lại thêm lựa chọn điều trị cho các cơ sở y tế.

PGS-TS.Nguyễn Thị Liên Hương, Phó Chủ tịch Hội Dược Bệnh viện Hà Nội, nguyên Trưởng Bộ môn Dược lâm sàng Trường Đại học Dược Hà Nội, cho biết thuốc sinh học tương tự là một bước tiến quan trọng của y học hiện đại, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận các liệu pháp sinh học chất lượng cao với chi phí hợp lý hơn.

Theo bà, việc từng bước đưa các giải pháp này vào thực hành y tế không chỉ giúp giảm áp lực chi phí cho hệ thống y tế mà còn tạo điều kiện phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, qua đó hướng tới mục tiêu công bằng và bền vững trong chăm sóc sức khỏe.

Tại Việt Nam, thuốc sinh học tương tự ngày càng đa dạng và nhiều sản phẩm đã được phê duyệt bởi các cơ quan quản lý dược quốc tế. Hiện có 81 hoạt chất thuộc danh mục thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch được cấp phép.

Các thuốc sinh học tương tự cũng đã nằm trong phạm vi danh mục và điều kiện thanh toán theo quy định, tùy theo loại thuốc, tuyến điều trị và chỉ định của thuốc gốc theo Thông tư 20/2022/TT-BYT, góp phần hỗ trợ giảm chi phí điều trị cho người bệnh.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng vẫn còn những rào cản đáng lưu ý. Sau khi thuốc sinh học tham chiếu hết bản quyền, các thuốc sinh học tương tự thường có độ trễ nhất định giữa thời điểm hết độc quyền và thời điểm được tiếp cận rộng rãi tại một số thị trường. Khoảng trễ này có thể ảnh hưởng đến tốc độ mở rộng các lựa chọn điều trị với chi phí phù hợp hơn.

Xạ trị SBRT: Cơ hội mới cho người bệnh ung thư gan

Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT - Stereotactic Body Radiation Therapy) là kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp điều trị hiệu quả ung thư gan ngay từ giai đoạn sớm hoặc trong trường hợp người bệnh không thể phẫu thuật. Phương pháp này cho phép tiêu diệt chính xác khối u trong khi hạn chế tối đa tổn thương đến các mô lành xung quanh.

Thông tin trên được các chuyên gia trong nước và quốc tế chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Cập nhật kỹ thuật SBRT trong điều trị ung thư gan - Góc nhìn từ các chuyên gia hàng đầu”, vừa diễn ra.

Theo PGS.Sang Min Yoon, Chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu của Hiệp hội Ung thư Gan Hàn Quốc, SBRT sử dụng liều bức xạ cường độ cao để nhắm trúng các tế bào ung thư từ nhiều góc độ khác nhau. Hiện nay, nhiều trung tâm xạ trị trên thế giới đã áp dụng kỹ thuật này trong điều trị ung thư gan.

Đáng chú ý, trong năm 2025, hệ thống phân giai đoạn ung thư gan BCLC lần đầu tiên nhắc đến SBRT trong hướng dẫn điều trị, khuyến khích áp dụng cho các khối u có kích thước đa dạng, từ giai đoạn sớm đến khối u lớn, nằm gần mạch máu hoặc các cơ quan quan trọng, cũng như ở người bệnh lớn tuổi không thể phẫu thuật.

Trước đây, các phương pháp điều trị ưu tiên cho ung thư gan chủ yếu là phẫu thuật và đốt sóng cao tần (RFA). Tuy nhiên, phẫu thuật đòi hỏi nhiều điều kiện nghiêm ngặt, mức độ xâm lấn lớn và vẫn có nguy cơ tái phát. Trong khi đó, RFA sử dụng nhiệt để phá hủy khối u với chi phí thấp hơn nhưng vẫn mang tính xâm lấn và gặp nhiều hạn chế khi khối u nằm gần bao gan, mạch máu, đường mật, dạ dày, tá tràng hoặc khi khối u lớn hơn 3 cm hay xuất hiện ở nhiều vị trí.

BS.CKII Nguyễn Thế Hiển, chuyên gia ung bướu cho biết, các kỹ thuật xạ trị thông thường trước đây cũng ít được chỉ định rộng rãi cho ung thư gan do khó kiểm soát sự di động của khối u theo nhịp thở, đồng thời có nguy cơ gây biến chứng suy gan.

Trong khi đó, SBRT có thể khắc phục những hạn chế này. Phương pháp điều trị không xâm lấn, sử dụng chùm bức xạ photon để phá hủy khối u, đồng thời kiểm soát được sự di chuyển của khối u gan và thực hiện dưới hướng dẫn hình ảnh theo thời gian thực, giúp tiêu diệt chính xác khối u nhưng vẫn bảo vệ được các cơ quan lành xung quanh.

Tại Hội thảo, GS.Zhao Chong Zeng, Phó Chủ tịch Chi hội Xạ trị Ung thư thuộc Hiệp hội Bệnh viện Nghiên cứu Trung Quốc, cũng trình bày báo cáo về hiệu quả xạ trị trên bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) tiến triển ở nhiều giai đoạn khác nhau.

Theo ông, số lượng người bệnh HCC được xạ trị đang ngày càng tăng. Nhờ các phương pháp điều trị miễn dịch trước đó giúp cải thiện tiên lượng sống, nhiều người bệnh có thể tiếp tục được xạ trị sau đó. Kỹ thuật SBRT còn được áp dụng cho các trường hợp khối u lớn hoặc đã di căn xương. Hiệu quả điều trị được cải thiện đáng kể khi kết hợp xạ trị với liệu pháp miễn dịch và thuốc trúng đích.

Các chuyên gia tại Hội thảo cũng chia sẻ nhiều ca lâm sàng với khối u gan từ nhỏ đến lớn, thậm chí xâm lấn mạch máu hoặc nằm gần các cơ quan quan trọng.

Còn theo TS.Phạm Xuân Dũng, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, một bệnh viện tại TP.HCM, SBRT mở ra cơ hội điều trị mới cho người bệnh ung thư gan, đặc biệt ở giai đoạn sớm khi hiệu quả điều trị có thể đạt mức cao. Theo ông, ung thư gan hiện là loại ung thư có số ca mắc mới và tử vong hàng đầu tại Việt Nam.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ công nghệ y học hiện đại và ý thức tầm soát bệnh được nâng cao, ngày càng nhiều trường hợp ung thư gan được phát hiện sớm. Sự kết hợp giữa liệu pháp miễn dịch và xạ trị SBRT mang lại hiệu quả và độ an toàn cao trong điều trị.

Dù vậy, việc triển khai SBRT tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay, chỉ có một số ít trung tâm có thể thực hiện kỹ thuật này do yêu cầu cao về hệ thống máy móc, công nghệ và chuyên môn.

Hội thảo cũng giới thiệu hệ thống xạ phẫu robot tích hợp trí tuệ nhân tạo CyberKnife S7. Hệ thống này có khả năng theo dõi khối u theo thời gian thực và tự động điều chỉnh chùm tia khi khối u di chuyển do hô hấp hoặc chuyển động của người bệnh, từ đó giảm tác động đến mô lành và hạn chế tác dụng phụ. Thời gian điều trị cũng được rút ngắn đáng kể, chỉ từ một đến năm buổi xạ trị, giúp người bệnh có thể sớm trở lại sinh hoạt bình thường.

Ngoài ung thư gan, hệ thống xạ trị robot còn được ứng dụng trong điều trị nhiều loại khối u ác tính và lành tính ở các vị trí khó như tụy, phổi, não, cột sống… Những trường hợp khối u tái phát hoặc không thể phẫu thuật mở cũng có thể được xem xét điều trị bằng phương pháp này.

Tin liên quan
Tin khác