Tổn thương thận nặng sau nhiều năm chủ quan với đau hông lưng
Làm nghề tài xế đường dài, thường xuyên phải ngồi nhiều giờ liên tục, anh Minh, 43 tuổi, đã quen với những cơn đau âm ỉ vùng hông lưng suốt nhiều năm. Nghĩ tình trạng này liên quan đến đặc thù công việc, trong lúc cơn đau không quá dữ dội, anh không điều trị dứt điểm.
Trước đó, người bệnh từng được đặt ống thông JJ trong niệu quản để dẫn lưu nước tiểu nhưng không tái khám kiểm tra niệu quản định kỳ. Chỉ đến lúc cơn đau trở nên dữ dội hơn, anh mới đến cơ sở y tế kiểm tra.
| Với người mắc tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc có các yếu tố nguy cơ khác, việc kiểm tra chức năng thận định kỳ giúp phát hiện sớm những bất thường trước lúc tổn thương tiến triển nặng. |
Ths.Nguyễn Tân Cương, chuyên khoa tiết niệu cho biết, kết quả thăm khám và xét nghiệm chuyên sâu phát hiện niệu quản phải của người bệnh bị hẹp nặng. Hình ảnh chụp CT cho thấy thận phải ứ nước độ 3, kích thước gần gấp đôi thận trái, nhu mô thận rất mỏng. Niệu quản phải giãn lớn đến đoạn cách bàng quang khoảng 3 cm. Thận trái cũng có sỏi nhỏ 6,5 mm và nang thận kích thước 15 mm.
Đáng chú ý, xét nghiệm máu ghi nhận creatinine ở mức 163 μmol/L, độ lọc cầu thận eGFR 43 ml/phút/1,73 m², tương ứng bệnh thận mạn giai đoạn 3b. Do hình ảnh CT mới phản ánh mức độ tổn thương về cấu trúc mà chưa xác định chính xác khả năng hoạt động còn lại của từng bên thận, người bệnh tiếp tục được xạ hình thận. Kết quả cho thấy thận phải chỉ còn 18% chức năng, trong lúc thận trái vẫn hoạt động tốt. Xét nghiệm nước tiểu chưa ghi nhận nhiễm trùng đường tiết niệu.
Theo bác sỹ Cương, tình trạng hẹp niệu quản khiến đường thoát của nước tiểu xuống bàng quang bị cản trở. Sự tắc nghẽn kéo dài làm nước tiểu ứ lại, gây giãn đài bể thận, tổn thương nhu mô và từng bước làm suy giảm chức năng thận. Nếu không giải quyết nguyên nhân tắc nghẽn, bên thận bị ảnh hưởng có nguy cơ mất hoàn toàn chức năng.
Nguy cơ đối với anh Minh càng đáng lưu ý do người bệnh đã mắc bệnh thận mạn. Nếu thận phải tiếp tục suy kiệt, gánh nặng lọc chất thải của cơ thể sẽ dồn nhiều hơn sang thận trái. Dù thận phải đã tổn thương đáng kể, các bác sỹ đánh giá người bệnh còn tương đối trẻ, thận trái hoạt động tốt và bên thận tổn thương vẫn còn 18% chức năng nên lựa chọn phương án bảo tồn thay vì cắt bỏ.
Người bệnh được phẫu thuật cắt bỏ đoạn niệu quản hẹp và cắm lại niệu quản phải vào bàng quang với sự hỗ trợ của robot. Để giảm nguy cơ nước tiểu trào ngược từ bàng quang lên niệu quản, ê-kíp tạo đường hầm dưới lớp cơ bàng quang rồi đưa niệu quản qua trước khi nối lại.
Ca phẫu thuật kéo dài khoảng 150 phút, lượng máu mất khoảng 20 ml. Sau một ngày, người bệnh có thể ăn cháo loãng, ít đau; sang ngày thứ hai đã đi lại và ăn uống bình thường, được xuất viện vào ngày thứ ba.
Từ trường hợp trên, bác sỹ Cương lưu ý hẹp niệu quản có thể gây tắc nghẽn dòng nước tiểu và làm chức năng thận suy giảm trong thời gian dài. Điều đáng lo là biểu hiện ban đầu đôi lúc khá mờ nhạt, người bệnh chỉ cảm thấy đau âm ỉ vùng hông lưng, triệu chứng không liên tục hoặc mức độ đau chưa đủ nghiêm trọng để thúc đẩy việc đi khám.
Đau hông lưng cũng dễ bị nhầm với đau cơ, xương khớp, đặc biệt ở những người phải ngồi lâu, lao động nặng hoặc thường xuyên lái xe. Sự chủ quan có thể khiến bệnh lý tiết niệu kéo dài đến giai đoạn thận đã tổn thương đáng kể mới được phát hiện.
“Tuổi còn trẻ không có nghĩa là loại trừ các bệnh lý tiết niệu. Triệu chứng kéo dài hoặc tái diễn cần được tìm đúng nguyên nhân để xử lý tình trạng tắc nghẽn trước lúc chức năng thận tiếp tục suy giảm”, bác sỹ Cương khuyến cáo.
Không phải tất cả trường hợp hẹp niệu quản đều phải phẫu thuật. Nếu bệnh được phát hiện sớm, đoạn hẹp ngắn và mới xuất hiện, bác sỹ có thể cân nhắc nong niệu quản hoặc rạch đoạn hẹp qua nội soi bằng laser. Với đoạn hẹp dài, tái phát hoặc tổn thương phức tạp, người bệnh có thể cần phẫu thuật tái tạo bằng mổ mở, nội soi hoặc phẫu thuật có robot hỗ trợ tùy vị trí, mức độ tổn thương và khả năng bảo tồn chức năng thận.
Các bác sỹ khuyến cáo người có biểu hiện đau âm ỉ vùng hông lưng kéo dài hoặc tái diễn, nhất là kèm theo bất thường tiểu tiện, cần đi khám để xác định nguyên nhân thay vì tự cho rằng triệu chứng xuất phát từ cơ, xương khớp. Người từng mắc bệnh lý tiết niệu hoặc đã trải qua các thủ thuật như đặt ống thông niệu quản càng cần tuân thủ lịch tái khám.
Với người mắc tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc có các yếu tố nguy cơ khác, việc kiểm tra chức năng thận định kỳ giúp phát hiện sớm những bất thường trước lúc tổn thương tiến triển nặng. Trường hợp của người đàn ông 43 tuổi cũng cho thấy một cơn đau tưởng như quen thuộc kéo dài nhiều năm có thể che giấu tình trạng tắc nghẽn đường tiết niệu, đến lúc phát hiện, chức năng của một bên thận đã giảm xuống chỉ còn chưa đầy một phần năm.
Nuốt vướng kéo dài, coi chừng dấu hiệu ung thư amidan
Bà Sự, 57 tuổi, phát hiện amidan hơi sưng từ khoảng 4 tháng trước nhưng nghĩ chỉ là viêm amidan thông thường. Bà uống thuốc nhưng tình trạng không cải thiện. Gần đây, cảm giác nuốt vướng xuất hiện khiến bà tiếp tục nghĩ mình bị hóc xương. Đến lúc amidan sưng đau nhiều, việc ăn uống trở nên khó khăn, bà mới đến viện kiểm tra.
Qua thăm khám và nội soi, amidan phải của người bệnh sưng to hơn bên trái, mật độ chắc và dính với các mô xung quanh, gợi ý tổn thương dạng u. Kết quả chụp MRI tiếp tục ghi nhận amidan khẩu hầu bên phải tăng kích thước, đồng thời xuất hiện hạch vùng cổ nhóm II nghi hạch thứ phát. Sinh thiết sau đó xác định người bệnh mắc ung thư tế bào vảy.
Trong quá trình phẫu thuật, các bác sỹ phát hiện khối u đã lan tới thành bên họng. Kết quả giải phẫu bệnh và nhuộm hóa mô miễn dịch xác định ung thư biểu mô tế bào vảy giai đoạn T3N1M0. Ở giai đoạn này, khối u đã tiến triển tại chỗ, lan sang vùng lân cận và di căn hạch cổ nhưng chưa ghi nhận di căn xa. Sau phẫu thuật, người bệnh tiếp tục được chỉ định xạ trị bổ trợ.
Điều đáng chú ý là trước lúc bệnh được phát hiện, bà Sự không có những biểu hiện thường khiến nhiều người liên tưởng tới ung thư như sụt cân hay suy kiệt. Các triệu chứng chủ yếu chỉ là sưng amidan một bên, nuốt vướng và đau lúc ăn nhai.
Ung thư amidan thuộc nhóm ung thư vùng hầu họng. Bệnh hình thành từ các tế bào bất thường tại amidan, thường gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào vảy. Khối u có thể phát triển, xâm lấn các mô lân cận và di căn tới hạch vùng cổ trước lúc lan tới những cơ quan xa.
Bác sỹ Hằng cảnh báo ung thư amidan ở giai đoạn đầu thường có ít triệu chứng rõ rệt. Nuốt vướng, nuốt đau một bên có thể xuất hiện sớm nhưng rất dễ bị nhầm với hóc xương hoặc các bệnh lý tai mũi họng thông thường. Amidan sưng một bên cũng khiến người bệnh nghĩ tới viêm amidan, nhất là những người vốn có tiền sử viêm họng hoặc trào ngược dạ dày thực quản.
Sự khác biệt cần chú ý nằm ở đặc điểm và thời gian kéo dài của triệu chứng cũng như khả năng đáp ứng điều trị. Viêm amidan thường gây sưng hai bên, đau rát rõ lúc nuốt, có thể kèm sốt và triệu chứng cải thiện sau điều trị phù hợp. Trong ung thư amidan giai đoạn sớm, tình trạng sưng thường xuất hiện một bên, người bệnh ít hoặc không sốt, cảm giác nuốt vướng hoặc đau có thể không quá dữ dội nhưng dai dẳng và không cải thiện sau điều trị viêm.
Hạch vùng cổ cũng là dấu hiệu cần quan sát. Hạch liên quan đến viêm thường mềm, đau, kích thước giảm sau đợt viêm. Ngược lại, hạch di căn ung thư có xu hướng chắc, ít đau và không nhỏ lại dù đã sử dụng thuốc kháng viêm.
Chính những biểu hiện ban đầu không quá dữ dội khiến người bệnh có thể trì hoãn việc kiểm tra chuyên khoa. Đến lúc khối u phát triển lớn, gây đau nhiều, khó nuốt hoặc xuất hiện hạch cổ rõ rệt, bệnh có thể đã bước sang giai đoạn tiến triển.
Tiên lượng ung thư amidan phụ thuộc nhiều vào thời điểm phát hiện bệnh. Nếu khối u còn khu trú tại amidan và chưa di căn hạch, khả năng kiểm soát bệnh cao hơn, đồng thời phạm vi can thiệp có thể hạn chế hơn so với những trường hợp phát hiện muộn.
Bệnh tiến triển tại chỗ hoặc đã di căn hạch thường đòi hỏi điều trị phức tạp hơn, có thể phải kết hợp phẫu thuật với xạ trị hoặc các phương pháp khác tùy từng trường hợp. Nếu ung thư đã di căn xa, khả năng điều trị khỏi giảm và mục tiêu điều trị có thể chuyển nhiều hơn sang kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống và duy trì chất lượng cuộc sống.
Các bác sỹ khuyến cáo không nên chủ quan với tình trạng amidan sưng to một bên, đau họng, nuốt vướng hoặc nuốt đau kéo dài trên hai tuần và không thuyên giảm dù đã điều trị, đặc biệt ở người trên 40 tuổi. Hạch cổ xuất hiện dai dẳng, chắc, ít đau cũng là dấu hiệu cần được kiểm tra.
Người có những biểu hiện bất thường kéo dài nên khám chuyên khoa tai mũi họng để được nội soi và thực hiện các xét nghiệm cần thiết. Ngoài nội soi họng bằng ánh sáng trắng, một số trường hợp có thể được nội soi dải tần hẹp NBI nhằm hỗ trợ nhận diện những biến đổi bất thường của niêm mạc và tổn thương nghi ngờ ác tính.
Sinh con muộn và khoảng cách ngày càng lớn với “độ tuổi vàng” sinh sản
Kết hôn muộn, trì hoãn sinh con đang trở thành lựa chọn của không ít người trẻ trước áp lực nhà ở, việc làm và chi phí nuôi con. Tuy nhiên, xu hướng này cũng tạo ra khoảng cách ngày càng lớn với độ tuổi thuận lợi về sinh học, đặt ra đồng thời bài toán sức khỏe sinh sản và chính sách dân số.
Quyết định kết hôn và sinh con của người trẻ ngày càng chịu tác động bởi nhiều yếu tố. Giá nhà cao, áp lực việc làm, chi phí chăm sóc và giáo dục trẻ cùng mong muốn ổn định sự nghiệp trước lúc lập gia đình khiến không ít người lựa chọn kết hôn muộn, trì hoãn sinh con hoặc sinh ít con.
Sinh con hay không, sinh bao nhiêu con và lựa chọn thời điểm nào trước hết thuộc quyền quyết định của mỗi cá nhân, gia đình. Tuy nhiên, dưới góc độ y khoa, tuổi sinh sản vẫn là yếu tố cần được cân nhắc bởi khả năng sinh sản của cả nam và nữ thay đổi cùng tuổi tác.
BSCKII Nguyễn Tuấn Đạt, Chủ nhiệm Khoa Nam học, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho rằng, xét về mặt sinh học, giai đoạn từ 25 đến 30 tuổi hoặc trước 33 tuổi được xem là thời điểm thuận lợi để sinh con đối với cả nam và nữ. Đây là giai đoạn sức khỏe sinh sản và chất lượng tế bào sinh dục có nhiều yếu tố thuận lợi.
Đối với phụ nữ, số lượng và chất lượng noãn giảm dần cùng tuổi tác, tốc độ suy giảm trở nên rõ hơn ở độ tuổi lớn hơn. Sau tuổi 35, khả năng mang thai tự nhiên giảm, trong lúc một số nguy cơ liên quan đến thai kỳ và bất thường nhiễm sắc thể ở thai nhi tăng lên.
Nam giới có thể duy trì khả năng sinh sản ở độ tuổi cao hơn nhưng tuổi tác cũng tác động đến các thông số và chất lượng tinh trùng. Bởi vậy, trì hoãn sinh con quá lâu có thể khiến hành trình có con trở nên khó khăn hơn đối với một bộ phận các cặp vợ chồng.
Bác sỹ Nguyễn Tuấn Đạt lưu ý, tuổi của bố mẹ càng cao, một số nguy cơ bất thường liên quan đến thai kỳ và sức khỏe của trẻ càng cần được quan tâm. Việc hiểu rõ đặc điểm sinh học không nhằm thúc ép người trẻ sinh con sớm mà giúp mỗi người có thêm thông tin để chủ động hoạch định cuộc sống và kế hoạch sinh sản.
Cùng với lựa chọn thời điểm sinh con, khám sức khỏe trước hôn nhân và trước mang thai có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, thai kỳ cũng như sức khỏe của trẻ.
Thông qua thăm khám, tư vấn và xét nghiệm phù hợp, các cặp đôi có thể phát hiện nguy cơ mắc hoặc mang gen một số bệnh di truyền như tan máu bẩm sinh Thalassemia, bệnh máu khó đông Hemophilia và một số bệnh lý di truyền khác.
Với những cặp vợ chồng cùng mang gen bệnh có nguy cơ truyền sang con, bác sỹ có thể tư vấn phương án sinh sản phù hợp. Một số trường hợp có chỉ định có thể áp dụng thụ tinh trong ống nghiệm kết hợp xét nghiệm di truyền tiền làm tổ nhằm lựa chọn phôi không mắc bệnh di truyền cụ thể trước lúc chuyển phôi.
Chuẩn bị cho việc sinh con cũng không dừng ở xét nghiệm di truyền. Người phụ nữ cần được đánh giá sức khỏe, kiểm soát các bệnh nền, rà soát tiền sử tiêm chủng và được tư vấn bổ sung dinh dưỡng phù hợp trước mang thai. Người chồng cũng cần kiểm tra sức khỏe sinh sản, điều chỉnh các yếu tố nguy cơ và duy trì lối sống lành mạnh.
Khoảng cách giữa độ tuổi thuận lợi về sinh học và thời điểm người trẻ cảm thấy đủ điều kiện để sinh con đang trở thành vấn đề đáng chú ý trong bối cảnh mức sinh của Việt Nam giảm.
Năm 2025, dân số Việt Nam đạt khoảng 102,3 triệu người. Mức sinh cả nước tiếp tục ở dưới mức sinh thay thế, trong lúc Việt Nam đồng thời bước sâu hơn vào quá trình già hóa dân số.
Phía sau sự thay đổi về mức sinh không đơn thuần là quan niệm của người trẻ về gia đình. Điều kiện kinh tế, nhà ở, việc làm, chi phí chăm sóc và giáo dục con, khả năng cân bằng giữa công việc với gia đình cũng tác động trực tiếp đến quyết định sinh con.
Điều này tạo ra một nghịch lý đáng chú ý. Về sinh học, việc sinh con ở độ tuổi phù hợp mang lại nhiều thuận lợi cho sức khỏe sinh sản. Về kinh tế - xã hội, nhiều người trẻ lại cần thêm thời gian để tích lũy tài chính, ổn định nghề nghiệp và chuẩn bị điều kiện chăm sóc con.
Khoảng cách ấy khó có thể thu hẹp chỉ bằng những lời kêu gọi sinh đủ con. Chính sách dân số trong giai đoạn mới cần giải quyết những nguyên nhân khiến người trẻ trì hoãn hoặc không muốn sinh con, từ nhà ở, việc làm, chi phí giáo dục, dịch vụ chăm sóc trẻ đến khả năng duy trì sự nghiệp của phụ nữ sau sinh.
Các chính sách hỗ trợ gia đình trẻ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám sức khỏe trước hôn nhân, sàng lọc trước sinh và sơ sinh cũng đang được mở rộng. Một số địa phương có mức sinh thấp đã triển khai hoặc nghiên cứu những hình thức hỗ trợ gia đình sinh đủ hai con, tùy điều kiện và chính sách từng địa bàn.
Ở môi trường lao động, những giải pháp như thời gian làm việc linh hoạt, dịch vụ chăm sóc trẻ, bảo đảm cơ hội quay trở lại công việc và hạn chế bất lợi nghề nghiệp đối với phụ nữ sau sinh cũng có thể tác động trực tiếp tới quyết định làm cha mẹ.