Y tế - Sức khỏe
Sửa Luật An toàn thực phẩm theo hướng quản lý cả chuỗi, siết trách nhiệm bằng dữ liệu
D.Ngân - 12/09/2026 11:52
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đang đặt ra một cách quản lý mới, từ kiểm soát từng khâu sang theo dõi toàn bộ chuỗi sản xuất, lưu thông, kinh doanh trên cơ sở phân tích nguy cơ và dữ liệu liên thông.

An toàn thực phẩm lâu nay thường được nhìn từ từng khâu riêng lẻ, từ sản xuất, chế biến đến phân phối, trong lúc một sản phẩm trước lúc đến tay người tiêu dùng phải đi qua nhiều chủ thể khác nhau. Chỉ cần một mắt xích không kiểm soát tốt, việc truy tìm nguồn gốc, xác định trách nhiệm và thu hồi sản phẩm có thể trở nên khó khăn.

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), gồm 9 chương, 75 điều, đang được xây dựng với định hướng thay đổi cách quản lý theo hướng bao quát cả chuỗi giá trị thực phẩm, từng bước thống nhất đầu mối quản lý từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đưa dữ liệu và công nghệ trở thành một phần của hệ thống giám sát.

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đang đặt ra một cách quản lý mới, từ kiểm soát từng khâu sang theo dõi toàn bộ chuỗi sản xuất, lưu thông, kinh doanh trên cơ sở phân tích nguy cơ và dữ liệu liên thông. Ảnh minh họa: ITN

Thay vì áp dụng một cách quản lý giống nhau cho mọi loại thực phẩm, dự thảo chuyển mạnh sang phân nhóm dựa trên mức độ rủi ro. TS.Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết, các sản phẩm sẽ được phân loại theo nguy cơ để áp dụng biện pháp quản lý tương ứng, từ quản lý sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh đến xử lý sự cố và hậu kiểm.

Theo hướng này, hậu kiểm được đặt ở vị trí rõ hơn, với các hoạt động thanh tra, kiểm tra, lấy mẫu giám sát thị trường và kiểm tra hồ sơ sau công bố. Dự thảo vẫn duy trì các hình thức đăng ký bản công bố, tự công bố hoặc miễn đăng ký, miễn tự công bố đối với những nhóm phù hợp.

Một trong những vấn đề đang được tranh luận nhiều là điều kiện để thực phẩm được lưu thông trên thị trường. Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm minh bạch cho rằng, cần coi giấy chứng nhận an toàn thực phẩm như một “giấy thông hành” bắt buộc đối với hàng hóa.

Đề xuất này xuất phát từ thực tế khoảng 90% lực lượng sản xuất nông nghiệp trong nước là hộ nông dân và doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong lúc hoạt động thu mua hiện nay chủ yếu quan tâm đến giá thành mà chưa đặt yêu cầu về chứng nhận an toàn thực phẩm. Theo bà Minh, việc thiếu sức ép từ phía người mua khiến người sản xuất chưa có đủ động lực để đầu tư cho các tiêu chuẩn an toàn.

Nếu nhà thu mua chỉ được phép mua hàng từ cơ sở đáp ứng yêu cầu chứng nhận, trách nhiệm kiểm soát sẽ không còn dồn hoàn toàn về phía cơ quan quản lý. Người mua phải kiểm tra người bán, nhà phân phối phải quan tâm đến nguồn hàng và mỗi chủ thể trong chuỗi buộc phải lưu giữ căn cứ chứng minh sản phẩm đủ điều kiện.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh, cơ chế này có thể tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau trong thị trường, thay vì đợi đến lúc cơ quan chức năng phát hiện vi phạm mới xử lý. Tuy nhiên, việc bổ sung thêm điều kiện lưu thông cũng đặt ra bài toán về chi phí tuân thủ, nhất là với khu vực sản xuất nhỏ lẻ.

Đại diện Hiệp hội Thực phẩm minh bạch đề xuất đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đánh giá, chứng nhận, sử dụng các tổ chức độc lập có năng lực chuyên môn đã được Nhà nước thừa nhận, tương tự cách một số tiêu chuẩn đối với hàng xuất khẩu hay sản phẩm hữu cơ đang được áp dụng. Cơ quan nhà nước tập trung vào thanh tra, giám sát chất lượng hoạt động của các tổ chức này.

Với hộ nông dân quy mô nhỏ, giải pháp được đề xuất là tổ chức lại theo mô hình cộng đồng, song song với việc bắt buộc tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm cho tiểu thương, người kinh doanh thức ăn đường phố và tăng định danh, truy xuất nguồn gốc tại các chợ đầu mối.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cho rằng tăng yêu cầu quản lý không nên đồng nghĩa với tăng thủ tục. Một số ý kiến đề nghị chấp nhận phiếu thử nghiệm từ các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025, thay vì yêu cầu lặp lại xét nghiệm chỉ vì khác biểu mẫu, qua đó giảm thời gian và chi phí không cần thiết.

Doanh nghiệp cũng kiến nghị bỏ yêu cầu đăng ký lại và tự công bố lại theo định kỳ, thu hẹp phạm vi tiền kiểm, chỉ tập trung vào các nhóm có nguy cơ cao như thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học và thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, gồm sản phẩm dành cho trẻ dưới 36 tháng tuổi.

Đối với hàng nhập khẩu, đề xuất được đưa ra là áp dụng thực chất cơ chế kiểm tra giảm, không yêu cầu cấp xác nhận từng lô đối với hàng thuộc diện này và miễn kiểm tra nguyên liệu nhập khẩu dùng cho sản xuất nội bộ. Các thông báo thu hồi sản phẩm từ nước ngoài cũng được kiến nghị chỉ áp dụng đối với trường hợp thực sự có ảnh hưởng tới thị trường Việt Nam.

Song song với việc thay đổi điều kiện kiểm soát, một trụ cột khác đang được đặt ra là hình thành hệ thống dữ liệu an toàn thực phẩm thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

Theo Bộ Y tế, định hướng này đã được đặt ra tại Nghị quyết số 184/NQ-CP về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 7. Hệ thống dự kiến thu thập và cập nhật dữ liệu phục vụ giám sát, kiểm tra, phân tích nguy cơ, phòng ngừa sự cố và truy xuất nguồn gốc thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Dữ liệu an toàn thực phẩm sẽ được kết nối với thông tin đăng ký doanh nghiệp, dữ liệu sản xuất ban đầu và những nguồn dữ liệu liên quan. Công nghệ nhận diện điện tử cũng được tính tới để theo dõi quá trình sản xuất, lưu thông của sản phẩm.

Nếu được triển khai đầy đủ, cơ quan quản lý có thể theo dõi một sản phẩm từ cơ sở sản xuất, kết quả thử nghiệm, quá trình lưu thông cho tới các lần thanh tra, kiểm tra hay sự cố phát sinh. Người dân cũng có thể tiếp cận thông tin về vi phạm, sự cố an toàn thực phẩm và danh sách các cơ sở vi phạm trên một hệ thống thống nhất.

Đây là thay đổi có ý nghĩa lớn bởi kiểm soát an toàn thực phẩm lâu nay không chỉ gặp khó ở khâu phát hiện vi phạm, mà còn ở khả năng truy ngược lại sản phẩm đã đi qua những đâu, ai chịu trách nhiệm và cần thu hồi trong phạm vi nào.

Hoạt động kinh doanh thực phẩm trên thương mại điện tử cũng được siết chặt hơn trong dự thảo. Cơ sở kinh doanh phải công khai thông tin pháp lý của sản phẩm, trong lúc nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm kiểm soát, xác thực thông tin theo quy định. Cách tiếp cận này mở rộng trách nhiệm từ người sản xuất, người bán sang cả nền tảng trung gian thay vì để hàng hóa trên môi trường số nằm ngoài các mắt xích kiểm soát.

Theo Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, cơ sở dữ liệu quốc gia và việc tổ chức hệ thống quản lý theo một đầu mối là hai trụ cột quan trọng để quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi. Dữ liệu dự kiến bao gồm cơ sở sản xuất, kinh doanh, vòng đời sản phẩm, kết quả thử nghiệm, ngộ độc thực phẩm, thanh tra, kiểm tra cùng nhiều thông tin liên quan khác và sẽ được kết nối theo lộ trình giữa các bộ, ngành, địa phương.

Với thực phẩm chức năng và thực phẩm bảo vệ sức khỏe, Bộ Y tế tiếp tục khuyến cáo người dân không nhầm các sản phẩm này với thuốc điều trị. Người tiêu dùng cần kiểm tra thông tin công bố, nội dung quảng cáo, thành phần, hạn sử dụng, đơn vị chịu trách nhiệm và cảnh giác với những quảng cáo gắn thực phẩm với khả năng chữa bệnh hoặc sử dụng hình ảnh, danh nghĩa bác sỹ, nhân viên y tế để tạo niềm tin không đúng bản chất sản phẩm.

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hiện tiếp tục được lấy ý kiến chuyên gia, hiệp hội và doanh nghiệp trước lúc trình cấp có thẩm quyền. Theo kế hoạch, dự thảo dự kiến được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ 2 vào tháng 10/2026.
Tin liên quan
Tin khác