Bộ Y tế đang xây dựng, hoàn thiện dự thảo Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với định hướng phát triển toàn diện, hiện đại, khoa học và hội nhập quốc tế.
Không chỉ bảo tồn những giá trị truyền thống, chiến lược đặt mục tiêu từng bước hình thành ngành kinh tế y, dược cổ truyền có giá trị gia tăng cao và xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam.
Theo GS-TS.Trịnh Thị Diệu Thường, Cục trưởng Cục Quản lý Y Dược cổ truyền, một trong những thay đổi đáng chú ý là chuyển từ tư duy sử dụng y học cổ truyền chủ yếu để chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện. Y học cổ truyền được đặt trong tổng thể hệ thống y tế quốc gia, gắn với chăm sóc sức khỏe theo vòng đời, từ dự phòng, nâng cao sức khỏe, khám chữa bệnh đến phục hồi chức năng và chăm sóc người cao tuổi.
| Một trong những thay đổi đáng chú ý là chuyển từ tư duy sử dụng y học cổ truyền chủ yếu để chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện. |
Đến năm 2030, 100% bệnh viện lão khoa, khoa lão được đặt mục tiêu tích hợp y học cổ truyền trong chăm sóc, phục hồi chức năng cho người cao tuổi, 100% trạm y tế cấp xã đủ năng lực cung ứng dịch vụ y học cổ truyền. Khoảng 90% bệnh viện y học cổ truyền tại các tỉnh, thành phố phấn đấu có quy mô tối thiểu 300 giường bệnh, mỗi vùng kinh tế xã hội có ít nhất một bệnh viện cấp chuyên sâu về y học cổ truyền.
Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng được đặt mục tiêu đạt 15% ở cấp chuyên sâu, 25% ở cấp cơ bản và 40% ở cấp ban đầu. Tỷ lệ chi trả Bảo hiểm y tế cho dịch vụ kỹ thuật y học cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền phấn đấu tăng tối thiểu gấp 2 lần so với giai đoạn trước năm 2025.
Cùng với mở rộng vai trò trong chăm sóc sức khỏe, dược liệu được xác định là một trong những trụ cột để phát triển y, dược cổ truyền thành lĩnh vực có giá trị kinh tế cao. Thay vì chỉ mở rộng vùng trồng và tăng nguồn cung nguyên liệu, định hướng mới hướng tới xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ giống, vùng nguyên liệu, nuôi trồng, thu hái, sơ chế, bảo quản đến chế biến sâu, sản xuất và tiêu thụ.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu tự chủ tối thiểu 20% nhu cầu dược liệu sử dụng trong nước, giảm nhanh sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu và tăng xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu đặt mục tiêu tăng tối thiểu 10% mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này cũng tăng bình quân tối thiểu 10%/năm. Trọng tâm được chuyển dần từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Các vùng dược liệu sẽ được phát triển theo tiêu chuẩn thực hành tốt nuôi trồng, thu hái hoặc khai thác dược liệu tự nhiên, gắn với sơ chế, bảo quản, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc. Khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được ưu tiên phát triển vùng dược liệu gắn với bảo tồn tri thức bản địa, tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững.
Chiến lược cũng hướng tới hình thành liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân và cơ sở khám chữa bệnh để xây dựng các mô hình sản xuất - chế biến - tiêu thụ bền vững. Đầu tư vào các nhà máy chế biến, chiết xuất, tinh chế, bào chế, sản xuất dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế được khuyến khích, tiến tới hình thành các cụm, trung tâm công nghiệp dược liệu.
Cùng mở rộng sản xuất là yêu cầu kiểm soát chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chí đánh giá chất lượng dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu sẽ tiếp tục được hoàn thiện. Mã định danh sản phẩm đối với dược liệu, vị thuốc cổ truyền, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tại vùng trồng sẽ được xây dựng và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Đến năm 2030, chiến lược đặt mục tiêu xây dựng thương hiệu quốc gia cho 30 sản phẩm từ dược liệu, thuốc cổ truyền và 10 dịch vụ khám chữa bệnh. Cùng với dược liệu, khoa học công nghệ được xác định là nền tảng để chuẩn hóa và hiện đại hóa y học cổ truyền, trong đó các trung tâm thử nghiệm lâm sàng sẽ được củng cố và phát triển theo tiêu chuẩn thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng, tiến tới hình thành hệ thống đạt tiêu chuẩn khu vực châu Á.
Những công nghệ mới như công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ nano và công nghệ chiết xuất được định hướng ứng dụng trong bảo tồn, phục tráng, lai tạo, nhân giống dược liệu, phát hiện hoạt chất, phân tích thành phần, bào chế và sản xuất sản phẩm chất lượng cao. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ phân tích hiện đại cũng sẽ được đưa vào nghiên cứu y, dược cổ truyền, hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu và phát triển.
Quá trình hiện đại hóa còn gắn với việc số hóa kho tri thức y học cổ truyền đang được lưu giữ trong sách cổ, tài liệu chuyên môn, các bài thuốc, phương pháp điều trị và kinh nghiệm dân gian. Đến năm 2030, tối thiểu 70% tri thức y học cổ truyền Việt Nam được đặt mục tiêu số hóa, ít nhất 30 bài thuốc, phương pháp điều trị hoặc tri thức truyền thống được nghiên cứu, chuẩn hóa và ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hoặc phát triển sản phẩm.
Nguồn nhân lực cũng được đặt trong yêu cầu phát triển mới. Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đạt 3 bác sỹ y học cổ truyền/10.000 dân, tối thiểu 30% có trình độ sau đại học, 100% trạm y tế cấp xã có ít nhất một cán bộ được đào tạo về y học cổ truyền và 65% trạm có bác sỹ hoặc y sỹ y học cổ truyền. Toàn bộ chương trình đào tạo đại học khối ngành sức khỏe được đặt mục tiêu có nội dung về y học cổ truyền với thời lượng tối thiểu 5% tổng số tín chỉ.
Xa hơn lĩnh vực khám chữa bệnh, y học cổ truyền còn được định hướng trở thành một bộ phận của kinh tế sức khỏe và du lịch y tế. Việt Nam dự kiến phát triển sản phẩm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng y, dược cổ truyền dành cho khách du lịch, kết hợp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, tri thức bản địa.
Đến năm 2030, mục tiêu là hình thành 5 dòng cung ứng dịch vụ, sản phẩm chăm sóc sức khỏe bằng y, dược cổ truyền phục vụ khách du lịch mang tính hệ thống và định vị các dòng sản phẩm, dịch vụ này trong hệ thống du lịch Việt Nam.
Để tạo hành lang pháp lý cho quá trình phát triển, theo Cục trưởng Cục Quản lý Y dược cổ truyền, Dự thảo Chiến lược xác định nhiệm vụ xây dựng Luật Y học cổ truyền, trình Quốc hội theo chương trình lập pháp của Quốc hội, đồng thời nghiên cứu cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy hợp tác công tư trong khám chữa bệnh, công nghiệp dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu sản xuất trong nước.
Cùng với mở rộng thị trường, hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát sẽ được tăng cường nhằm kiểm soát chất lượng dịch vụ, dược liệu, thuốc cổ truyền, hoạt động hành nghề, quảng cáo và lưu hành sản phẩm, xử lý nghiêm hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng và hành nghề trái phép.
Định hướng đến năm 2045 là hình thành hệ sinh thái y học cổ truyền vận hành trên nền tảng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh quốc tế.