Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 11/9: Tuổi 40 và sự chuẩn bị cho nhiều năm sống cùng bệnh tật
D.Ngân - 11/09/2026 09:12
Người Việt sống thọ hơn nhưng trung bình có khoảng 14 năm sống trong tình trạng bệnh tật. Trước tốc độ già hóa dân số nhanh, việc chuẩn bị sức khỏe, tài chính và việc làm cho tuổi già được đặt ra ngay từ tuổi 40.

Tuổi 40 và sự chuẩn bị cho nhiều năm sống cùng bệnh tật

Tuổi 40 vẫn là giai đoạn sung sức của nhiều người, công việc và thu nhập tương đối ổn định, tuổi già dường như còn khá xa. Tuy nhiên, với tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh, đây cũng là thời điểm mỗi người cần bắt đầu chuẩn bị sức khỏe, tài chính và công việc cho những năm sau tuổi lao động, thay vì đợi đến lúc trở thành người cao tuổi mới tính đến những vấn đề này.

Cùng với sự chuẩn bị từ tuổi trung niên, phát hiện sớm các bệnh thường gặp ở người cao tuổi sẽ được tăng cường.

Nội dung trên được Bộ Y tế đưa vào kế hoạch thích ứng với già hóa dân số và tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Thông tư hướng dẫn Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035. Người từ 40 tuổi được hướng dẫn duy trì lối sống lành mạnh, rèn luyện thể lực, chăm sóc sức khỏe, đồng thời chủ động chuẩn bị tài chính, lao động và việc làm phù hợp cho tuổi già.

Cách tiếp cận chuẩn bị sớm được đặt ra trong bối cảnh quy mô dân số cao tuổi của Việt Nam đang tăng nhanh. Cả nước hiện có 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên, tăng 2,8 triệu người so với năm 2019 và dự báo đến năm 2030 sẽ tiến sát 18 triệu người. Tương quan giữa các thế hệ cũng thay đổi rõ rệt, năm 2024 cứ 100 trẻ em có khoảng 60 người cao tuổi, nhưng đến năm 2074 con số này dự kiến tăng lên 225 người cao tuổi trên 100 trẻ em, kéo theo áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống an sinh xã hội và lực lượng lao động trẻ.

Đáng chú ý, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng nhưng chất lượng sức khỏe vẫn còn hạn chế, trung bình mỗi người có khoảng 14 năm sống trong tình trạng bệnh tật. Khoảng thời gian này làm gia tăng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, đồng thời tạo thêm sức ép đối với quỹ Bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước. Việc chuẩn bị cho tuổi già từ tuổi trung niên do đó không chỉ hướng tới sống lâu hơn mà còn giúp mỗi người chủ động duy trì sức khỏe và nguồn lực cần thiết cho một giai đoạn ngày càng dài của cuộc đời.

Theo kế hoạch, cán bộ y tế, dân số các cấp sẽ được tập huấn để tư vấn, hướng dẫn người dân duy trì lối sống lành mạnh, rèn luyện thể lực và chăm sóc sức khỏe. Người dân cũng được trang bị kỹ năng chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, đồng thời được hướng dẫn chuẩn bị tài chính, lao động và lựa chọn việc làm phù hợp lúc bước vào tuổi già.

Cùng với sự chuẩn bị từ tuổi trung niên, phát hiện sớm các bệnh thường gặp ở người cao tuổi sẽ được tăng cường. Hằng năm, UBND các tỉnh, thành phố lựa chọn 50% số xã, phường, đặc khu để tổ chức chiến dịch truyền thông kết hợp khám, phát hiện sớm một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Hoạt động này không trùng với các chương trình khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí khác.

Người cao tuổi và người thân sẽ được vận động tham gia, lập danh sách theo dõi sức khỏe, khám phát hiện bệnh và tư vấn cách tự chăm sóc, nâng cao sức khỏe trước, trong và sau đợt khám. Các địa phương đồng thời phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ngay tại khu vực sinh sống thông qua các câu lạc bộ, qua đó hướng dẫn kiến thức tự chăm sóc sức khỏe và các bài tập nâng cao thể lực.

Nguồn nhân lực phục vụ chăm sóc người cao tuổi cũng được củng cố với việc tăng cường đào tạo bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên chuyên ngành lão khoa. Ngành y tế đồng thời nghiên cứu mô hình bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi, phục vụ việc tổ chức các hoạt động chăm sóc phù hợp với sự thay đổi của cơ cấu dân số.

Theo các chuyên gia, tuổi trung niên là giai đoạn các yếu tố nguy cơ của bệnh mạn tính, suy giảm sức khỏe và áp lực tài chính bắt đầu xuất hiện, nên chuẩn bị cho tuổi già cần được thực hiện từ sớm. Duy trì vận động, thay đổi lối sống, tích lũy tài chính và trang bị kỹ năng chăm sóc có thể giúp kéo dài thời gian sống khỏe, giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống lúc về già.

Đột biến gene hiếm đe dọa tính mạng bé 11 tháng tuổi

Bệnh nhi T.N. nhập Bệnh viện Nhi Trung ương lúc mới 11 tháng tuổi trong tình trạng suy dinh dưỡng nặng, cân nặng chỉ 6 kg, gần như không thể tự ngồi hay đi lại. Sau nhiều xét nghiệm chuyên sâu, các bác sỹ xác định trẻ mắc một dạng viêm ruột khởi phát sớm do đột biến gene hiếm gặp, bệnh lý nghiêm trọng mà ghép tế bào gốc tạo máu là cơ hội duy nhất để cứu sống trẻ.

Hành trình điều trị gặp trở ngại ngay từ việc tìm nguồn tế bào gốc phù hợp. Kết quả kiểm tra cho thấy cả bố, mẹ và anh trai của T.N. đều không có mức độ tương hợp HLA phù hợp để ghép. Các bác sỹ sau đó tìm được một đơn vị máu dây rốn phù hợp hoàn toàn với bệnh nhi, mở ra cơ hội thực hiện ca ghép.

TS.Nguyễn Ngọc Quỳnh Lê, Phụ trách Trung tâm Y học tái tạo và Trị liệu tế bào, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, quy trình ghép của T.N. khá đặc biệt so với những bệnh nhi khác do trẻ mắc tình trạng bệnh lý tự viêm. Trước, trong và sau quá trình ghép, trẻ phải liên tục sử dụng thuốc đặc trị tiêm dưới da hằng ngày, đồng thời dùng thêm nhiều thuốc ức chế miễn dịch có ảnh hưởng khá lớn tới hệ miễn dịch.

Tình trạng đường ruột không thể hấp thu tiếp tục đặt ra thách thức trong quá trình ghép. Các bác sỹ chỉ có thể cho trẻ ăn một lượng nhỏ để phản ứng viêm ruột không trở nên nghiêm trọng hơn, đồng thời phải nuôi dưỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch trong gần 2 tháng liên tục trước, trong và sau ghép để duy trì dinh dưỡng.

Mức độ nguy hiểm của căn bệnh được bác sỹ Nguyễn Ngọc Quỳnh Lê cảnh báo rõ, đối với nhóm viêm ruột khởi phát sớm do đột biến gene này, nếu không được ghép tế bào gốc, trẻ gần như chắc chắn không thể qua khỏi trong khoảng 2-3 năm đầu đời.

Sau ca ghép, tình trạng bệnh của T.N. dần ổn định. Từ một em bé gần như không thể tự ngồi, trẻ đã có thể ngồi và bắt đầu bước những bước đi đầu tiên, ăn được những món mình thích, cân nặng và chiều cao cải thiện đáng kể so với trước ghép. Sự phát triển của trẻ cũng gần đạt mức tương đương với những em bé cùng độ tuổi.

Nhìn con khỏe mạnh trở lại, mẹ bệnh nhi chia sẻ gia đình vô cùng vui mừng và biết ơn các bác sỹ bởi trước đó luôn lo sợ trẻ khó có cơ hội sống. Sau quá trình điều trị, T.N. đã khỏe mạnh, có thể cười đùa và chạy nhảy.

Bệnh viện Nhi Trung ương hiện đã làm chủ nhiều kỹ thuật ghép tế bào gốc, gồm ghép từ tủy xương, máu ngoại vi, máu dây rốn và ghép tế bào gốc từ người cho chỉ phù hợp một nửa. Kỹ thuật này đã được thực hiện cho nhiều nhóm bệnh với chỉ định rộng, từ bệnh lý ác tính, các bệnh huyết học như suy tủy, thiếu máu tan máu đến những bệnh lý đặc biệt như suy giảm miễn dịch, viêm ruột và rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.

Sau khai giảng, trẻ mắc hen dễ tái phát cơn cấp

Khoảng 2-3 tuần sau khai giảng thường ghi nhận số trẻ nhập viện do hen phế quản gia tăng, trong đó không ít trường hợp đến viện đã khó thở nhiều, lồng ngực co rút, khò khè, thậm chí thở rít. Theo TS.Nguyễn Hữu Trường, Phó Giám đốc Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, thời gian đầu năm học cũng là giai đoạn trẻ thay đổi đột ngột môi trường sinh hoạt, trong lúc đường thở của trẻ mắc hen vốn nhạy cảm với các tác nhân bên ngoài.

Sau nhiều tháng nghỉ hè, trẻ trở lại lớp, sinh hoạt trong không gian kín, sử dụng điều hòa và tiếp xúc với đông bạn bè, tạo điều kiện thuận lợi cho virus đường hô hấp, đặc biệt là Rhinovirus, lây lan. Với trẻ khỏe mạnh, Rhinovirus thường chỉ gây hắt hơi, chảy nước mũi, nhưng ở trẻ có cơ địa hen, virus có thể kích hoạt phản ứng viêm tại đường thở, gây phù nề, co thắt và tắc nghẽn phế quản.

Môi trường lớp học cũng có những yếu tố có thể kích hoạt cơn hen. Bụi nhà, mạt bụi và nấm mốc có thể tích tụ tại rèm cửa, phòng học hoặc hệ thống điều hòa nếu không được vệ sinh thường xuyên, trong lúc sự thay đổi nhiệt độ đột ngột từ môi trường nóng bên ngoài vào phòng điều hòa có thể kích thích đường thở. Sự kết hợp của các yếu tố này làm tăng nguy cơ xuất hiện đợt hen cấp ở trẻ trong thời gian đầu năm học.

Một vấn đề đáng lưu ý là các biểu hiện ban đầu của cơn hen cấp có thể khiến phụ huynh nhầm với cảm cúm hoặc viêm đường hô hấp thông thường. Thấy trẻ ho, sổ mũi, mệt mỏi, nhiều cha mẹ nghĩ con bị lây bệnh từ bạn bè rồi tự mua siro ho, thậm chí sử dụng kháng sinh. TS.Nguyễn Hữu Trường lưu ý kháng sinh không có tác dụng điều trị tình trạng co thắt phế quản do hen, việc tự điều trị không đúng nguyên nhân có thể khiến trẻ chậm được xử trí cơn hen cấp.

Để phân biệt, phụ huynh cần đặc biệt quan sát cách trẻ thở. Cảm cúm thông thường có thể khiến trẻ sốt, mệt, hắt hơi, chảy nước mũi nhưng nhịp thở thường không xuất hiện tiếng khò khè đặc trưng. Với cơn hen cấp, trẻ có thể ho nhiều, nhất là về đêm, thở khò khè, thở rít và khó thở. Ở mức độ nặng, vùng hõm cổ và các khoảng liên sườn có thể co lõm theo nhịp thở, trẻ khó nói thành câu dài, bồn chồn, hoảng sợ hoặc phải ngồi chống tay để dễ thở.

Để hạn chế nguy cơ tái phát cơn hen trong thời gian đầu năm học, bác sỹ Nguyễn Hữu Trường khuyến cáo phụ huynh không tự ý ngừng thuốc kiểm soát hen dù trẻ đã ổn định trong thời gian dài. Việc không xuất hiện cơn khó thở trong mùa hè không có nghĩa bệnh đã khỏi, trong lúc tự ngừng thuốc kiểm soát mà chưa có chỉ định của bác sỹ có thể khiến bệnh không được kiểm soát tốt lúc trẻ trở lại trường và tiếp xúc nhiều hơn với các yếu tố kích hoạt.

Cha mẹ cần cho trẻ sử dụng thuốc đúng liều, đúng thời gian theo đơn của bác sỹ, đồng thời thông báo cho giáo viên chủ nhiệm và nhân viên y tế trường học về tiền sử hen của trẻ. Thuốc cắt cơn theo chỉ định của bác sỹ cùng buồng đệm nếu được khuyến cáo cần được chuẩn bị sẵn để sử dụng lúc cần thiết, giáo viên và nhân viên y tế trường học cũng cần biết cách hỗ trợ nếu trẻ xuất hiện dấu hiệu khó thở.

Trường hợp trẻ đã sử dụng thuốc cắt cơn theo kế hoạch điều trị nhưng triệu chứng không cải thiện, tiếng khò khè và khó thở tiếp tục tăng, trẻ không thể nói thành câu dài hoặc xuất hiện co lõm lồng ngực, cha mẹ cần nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu và điều trị kịp thời.

Những tuần đầu trở lại trường làm thay đổi đồng thời môi trường sinh hoạt, mức độ tiếp xúc với virus và các yếu tố có thể kích thích đường thở của trẻ mắc hen. Duy trì thuốc kiểm soát theo chỉ định, nhận biết sớm những thay đổi trong nhịp thở và trao đổi đầy đủ tiền sử bệnh với nhà trường sẽ giúp trẻ được hỗ trợ kịp thời nếu cơn hen xuất hiện.

Tin liên quan
Tin khác