Không khí Hội thảo góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An toàn thực phẩm do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trưởng của Quốc hội tổ chức chiều ngày 4/9 khá căng, cả hội trường kín người gần như không ai rời khỏi vị trí trong suốt 3 tiếng đồng hồ liên tục.
| Hội thảo góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An toàn thực phẩm do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trưởng của Quốc hội tổ chức |
Hình ảnh tắc nghẽn hoạt động do những điều khoản chưa phù hợp của Nghị định 46/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm hồi đầu năm nay được các hiệp hội nhắc lại với nhiều lo ngại.
Lo nút thắt tiền kiểm
Đây là điều mà bà Phạm Thị Ngọc, đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam gửi tới Hội thảo, trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ các thành viên hiệp hội.
“Các ý kiến này được tổng hợp sau kỳ nghỉ lễ”, bà Ngọc nói cùng với một bài trình bày chuẩn bị rất công phu. Trong đó, so sánh sự khác biệt về thủ tục, hồ sơ, thời gian và chi phí giữa cơ chế đăng ký/tự công bố tiêu chuẩn sản phẩm hiện hành và cơ chế tương ứng đang được quy định tại Dự thảo.
Điều đáng lo ngại không chỉ ở số lượng hồ sơ gia tăng rất lớn, từ 2 loại tài liệu với cơ chế tự công bố, 4 tài liệu với cơ chế đăng ký đã lên 14 loại mà còn nhiều tài liệu “không thể cung cấp được” – theo bà Ngọc. Ví dụ như “bằng chứng khoa học chứng minh công dụng, tác dụng của sản phẩm” hay “Báo cáo quá trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm”, “kết quả nghiên cứu độ ổn định của sản phẩm”... “Các hộ sản xuất sữa chua ở Mộc Châu làm sao có được các tài liệu này vì họ sản xuất theo kinh nghiệm và truyền thống. Nếu không có, họ sẽ không thể đăng ký hay tự công bố tiêu chuẩn sản phẩm theo quy định, các hộ sẽ phải đóng cửa”, bà Ngọc lo ngại.
Hơn thế, với thời gian xét duyệt lên tới 15 ngày với cơ chế tự công bố và 90 ngày với cơ chế đăng ký, trong khi hiện tại, các doanh nghiệp tự công bố không phải chờ đợi ý kiến của cơ quan quản lý, có thể tiến hành sản xuất ngay; còn thời gian chờ của cơ chế đăng ký chỉ là 7 ngày, các doanh nghiệp đặc biệt lo ngại về khả năng ách tắc khi thực hiện.
| So sánh thủ tục hành chính, hồ sơ, thời gian thực hiện và chi phí của cơ chế tự công bố/đăng ký tiêu chuẩn thực phẩm giữa Nghị định 15/2018/NĐ-CP (xanh lá), Nghị định 38/2012/NĐ-CP (xanh dương) và Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (màu đỏ) của EuroCham |
“Khối lượng hồ sơ lớn chưa từng có sẽ xuất hiện”, ông Nguyễn Hồng Uy, Trưởng nhóm kỹ thuật thuộc Tiểu ban Thực phẩm và Dinh dưỡng, Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) dự liệu khi các quy định chuyển tiếp tại Dự thảo có hiệu lực.
Chỉ tính riêng số hồ sơ tự công bố trong giai đoạn 2018-2022 của 50 tỉnh, thành phố là 335.270 hồ sơ, số hồ sơ đăng ký là 53.910, thì tổng số hồ sơ phải thực hiện cơ chế tự công bố/đăng ký như mới trong vòng 24-36 tháng sau khi Luật An toàn phực phẩm sửa đổi có hiệu lực sẽ lên tới gần 400.000 hồ sơ. Con số này chưa bao gồm số hồ sơ từ năm 2023 đến tháng 6/2027 – thời điểm dự kiến Luật có hiệu lực nếu được Quốc hội thông qua vào Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI sẽ diển ra vào tháng 10 tới.
Cùng với số hồ sơ khổng lồ, số lượng thủ tục hành chính được tính đếm là 116, thay vì 30 như hiện tại; nội dung hồ sơ tăng gấp 3,5-7 lần...
“Chi phí của riêng giai đoạn chuyển tiếp thêm lên ít nhất là 2.250 tỷ đồng/năm, 3 năm là 6.750 tỷ đồng. Còn số 8,5 triệu ngày công và 3.332,5 tỷ đồng/năm tiết kiệm được khi thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP sẽ quay trở lại...”, ông Uy phân tích và cho biết tạm tính theo giá của Nghị định 38/2012/NĐ-CP.
Con số này theo tính toán của Hiệp hội sữa Việt Nam là 3,6 triệu giờ công của doanh nghiệp và 507.000 giờ làm việc của 288 cán bộ công chức làm việc toàn thời gian trong 1 năm.
“Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đã phát biểu tại Hội thảo ngày 28/8/2026 tại TP.HCM là “nguồn lực quản lý nhà nước có hạn, cần ưu tiên hậu kiểm hiệu quả. Duy trì phương thức tự công bố. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm sản phẩm và cập nhật thông tin trên hệ thống để phục vụ hậu kiểm. Chúng tôi rất đồng tình và cho rằng, quản lý hiệu quả không nằm ở việc tạo thêm một giấy phép mà ở hậu kiểm đúng trọng tâm và xử lý nghiêm hành vi vi phạm”, bà Phạm Thị Ngọc gửi kiến nghị của Hiệp hội Sữa Việt Nam.
VCCI: Mọi quy định đều cần dựa trên đánh giá tác động đầy đủ
Phát biểu tại Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký VCCI khẳng định có những yêu cầu mới trong dự thảo là cần thiết và doanh nghiệp phải nâng chuẩn để đáp ứng, chẳng hạn yêu cầu về hệ thống quản lý tiên tiến với nhóm sản phẩm nguy cơ cao, hay trách nhiệm của cơ sở đứng tên đăng ký công bố.
| Ông Đậu Anh Tuấn: Ít có đạo luật nào phạm vi tác động rộng như đạo luật này. Nó chạm tới bữa ăn hằng ngày của gần một trăm triệu người dân, đồng thời chạm tới sinh kế của hàng triệu hộ kinh doanh, hợp tác xã và doanh nghiệp, từ người nông dân, chủ tàu cá cho tới các nhà máy chế biến xuất khẩu và các nền tảng thương mại điện tử. |
“Điều chúng tôi mong muốn là mọi quy định đều dựa trên đánh giá tác động đầy đủ, có căn cứ khoa học và bảo đảm tính khả thi”, ông Tuấn bày tỏ quan điểm.
Trên cơ sở tổng họp ý kiến từ các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, VCCI cho biết đang có 4 nhóm vấn đề doanh nghiệp đặc biệt quan tâm, đề xuất cân nhắc sửa đổi.
Một là, sự tương thích giữa phân loại nguy cơ và mức độ thủ tục.
Điều 43 dự thảo phân thực phẩm thành hai nhóm nguy cơ, trong khi Điều 46 lại giữ ba tầng thủ tục. Hai điều này chưa ăn khớp với nhau, dẫn tới nguy cơ nguồn lực quản lý không được đặt đúng trọng tâm.
Hai là, thành phần hồ sơ và bản chất của cơ chế công bố tiêu chuẩn sản phẩm.
Các yêu cầu như bằng chứng khoa học chứng minh công dụng, báo cáo quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm, kết quả nghiên cứu độ ổn định là hợp lý với thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các nhóm đặc thù.
“Nhưng nếu áp dụng chung cho thực phẩm thông thường, nhất là sản phẩm truyền thống của làng nghề và doanh nghiệp nhỏ, thì tính khả thi là một dấu hỏi lớn”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Ba là, thời hạn hiệu lực và điều khoản chuyển tiếp. VCCI đề nghị cân nhắc nguyên tắc: sản phẩm đăng ký sau ngày Luật có hiệu lực áp dụng quy định mới, sản phẩm đang lưu hành chỉ làm lại thủ tục khi có thay đổi trọng yếu hoặc khi hậu kiểm phát hiện vi phạm. Cách làm này vừa bảo đảm tính liên tục của sản xuất kinh doanh, vừa dồn được nguồn lực vào đúng nơi có rủi ro.
Bốn là, đề nghị cân nhắc miễn kiểm tra với nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến nhập khẩu để sử dụng nội bộ, không lưu thông trực tiếp; và với kiểm tra giảm thì chỉ kiểm tra hồ sơ đối với cơ sở đã được chứng nhận GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRCGS, FSSC 22000 hoặc hệ thống tương đương.
Năm là các vấn đề của khu vực xuất khẩu, có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một ngành hàng. Hiện chưa có ngưỡng mặc định cho hoạt chất được phép sử dụng nhưng chưa thiết lập MRL, cũng chưa có ngưỡng tham chiếu để hành động với chất bị cấm nhưng phát hiện ở mức vết. EU và Nhật Bản đều đã có cơ chế xử lý.
“Đây không phải hạ chuẩn an toàn, mà là tạo căn cứ khoa học thống nhất cho cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp và phòng thử nghiệm. Cùng nhóm vấn đề này, Nghị định 37/2026 hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã xác lập nguyên tắc hàng xuất khẩu tuân thủ quy định của nước nhập khẩu, cần rà soát để Luật này không tạo cách hiểu khác”, ông Tuấn gửi thông tin tới Ban soạn thảo.
Các doanh nghiệp đồng tình và sẵn sàng với quy định về hệ thống dữ liệu. Tuy vậy, cũng có doanh nghiệp kiến nghị làm rõ phạm vi dữ liệu thu thập, để bảo đảm chỉ thu thập thông tin phục vụ quản lý an toàn thực phẩm, tương thích với Luật Dữ liệu và bảo vệ được bí mật kinh doanh.
Ngoài ra, từ góc nhìn của mình, VCCI đề xuất quy định rõ ai là đầu mối tiếp nhận hồ sơ, ai kiểm tra và ai chịu trách nhiệm khi có sự cố. Rất mong định hướng này được làm rõ.
Đặc biệt, liên quan đến năng lực thực thi, VCCI lo ngại nếu Luật đặt ra nhiều nghĩa vụ mới mà năng lực thực thi chưa tương xứng, kết quả có thể là quy định nằm trên giấy với khu vực phi chính thức, trong khi khu vực chính thức lại gánh toàn bộ chi phí tuân thủ.