Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 21/1: Đau thắt lưng kéo dài, phát hiện ung thư thận giai đoạn sớm
D.Ngân - 21/01/2026 09:38
Đau thắt lưng dai dẳng ở người cao tuổi không chỉ là biểu hiện bệnh cơ xương khớp. Trường hợp một bệnh nhân 77 tuổi được phát hiện ung thư thận từ triệu chứng tưởng chừng đơn giản cho thấy tầm quan trọng của thăm khám và chẩn đoán sớm.

Đau thắt lưng kéo dài, phát hiện ung thư thận giai đoạn sớm

Bà Hoàng Hiền, 77 tuổi, thời gian gần đây thường xuyên xuất hiện các cơn đau âm ỉ vùng thắt lưng và hố chậu trái. Do có tiền sử hẹp ống sống, bà cho rằng đây là biểu hiện của bệnh lý cơ xương khớp tuổi già nên chủ quan theo dõi tại nhà.

Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, cơn đau tái diễn nhiều lần, không có xu hướng thuyên giảm. Khi đi khám tại một cơ sở y tế, kết quả ghi nhận có khối u thận. Người bệnh được điều trị nội khoa nhưng triệu chứng không cải thiện, nên tiếp tục đến chuyên khoa Tiết niệu - Nam học để thăm khám chuyên sâu.

Bác sỹ Trương Bảo Thắng, chuyên khoa Tiết niệu - Nam học cho biết, kết quả chụp cắt lớp vi tính ổ bụng ghi nhận khối u thận trái kích thước khoảng 4,5 cm, bên trong có nốt vôi hóa nhỏ, làm đẩy lồi bờ thận. Nhu mô thận còn lại xuất hiện rải rác một số nang nhỏ dưới 5 mm.

“Từ các đặc điểm hình ảnh học, người bệnh được chẩn đoán ung thư thận giai đoạn sớm và được chỉ định phẫu thuật nhằm điều trị triệt căn, đồng thời xác định chính xác bản chất khối u”, bác sỹ Thắng cho biết.

Êkíp điều trị quyết định phẫu thuật nội soi cắt thận trái kèm khối u. Phương pháp này giúp lấy trọn tổn thương với mức xâm lấn tối thiểu, hạn chế mất máu, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian hồi phục, phù hợp với người bệnh cao tuổi có tiền sử tăng huyết áp và hẹp ống sống. Trong quá trình phẫu thuật, toàn bộ khối u kích thước 4,5 cm được cắt bỏ, bảo đảm nguyên tắc điều trị triệt căn.

Mẫu mô khối u được gửi làm xét nghiệm mô bệnh học, kết quả xác định bà Hoàng Hiền mắc ung thư biểu mô tế bào thận. Đây là dạng ung thư xuất phát từ các tế bào biểu mô ống lượn gần, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại ung thư thận ở người lớn.

Theo bác sỹ Thắng, ung thư thận là bệnh lý khó phát hiện sớm do thường không có triệu chứng đặc hiệu. Nhiều trường hợp chỉ biểu hiện mơ hồ như đái máu vi thể, đau mỏi lưng kéo dài hoặc được phát hiện tình cờ qua chẩn đoán hình ảnh khi khám bệnh khác, nên dễ bị bỏ qua.

Trong trường hợp của bà Hiền, khối u được phát hiện khi chưa di căn ra ngoài thận, giúp tiên lượng điều trị thuận lợi. Sau phẫu thuật, sức khỏe người bệnh hồi phục tốt, các cơn đau thắt lưng giảm rõ rệt, ăn uống và vận động trở lại bình thường. Sau thời gian theo dõi hậu phẫu, bà được xuất viện và hướng dẫn tái khám định kỳ để đánh giá chức năng thận còn lại cũng như phát hiện sớm nguy cơ tái phát.

Các bác sỹ khuyến cáo, người dân, đặc biệt là người cao tuổi hoặc có bệnh nền, không nên chủ quan với các cơn đau thắt lưng kéo dài, tái diễn hoặc không rõ nguyên nhân.

Đây có thể là dấu hiệu cảnh báo các bệnh lý tiềm ẩn, trong đó có ung thư thận giai đoạn sớm. Việc thăm khám kịp thời và thực hiện các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh phù hợp giúp nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện tiên lượng lâu dài cho người bệnh.

U tuyến thượng thận tái phát gây tăng huyết áp kịch phát nguy hiểm

Chị Hân, 35 tuổi, thường xuyên xuất hiện các cơn tăng huyết áp kèm nhức đầu, hồi hộp, tim đập nhanh. Dù đã đi khám nhiều nơi và sử dụng phối hợp nhiều loại thuốc hạ áp, huyết áp của chị vẫn dao động ở mức 140/90 mmHg trở lên, có thời điểm tăng vọt tới 200/110 mmHg, tiềm ẩn nguy cơ đột quỵ, suy tim.

Qua thăm khám chuyên sâu, các bác sỹ phát hiện chị Hân bị u tuyến thượng thận phải tái phát, kích thước khoảng 4 cm, nằm ở vị trí đặc biệt nguy hiểm phía sau tĩnh mạch chủ, sát động mạch và tĩnh mạch thận phải. Người bệnh từng phẫu thuật u tuyến thượng thận cách đây 15 năm.

TS.Nguyễn Hoàng Đức, chuyên khoa tiết niệu cho biết, u tuyến thượng thận có thể làm tăng tiết các hormone như aldosterone, cortisol hoặc catecholamine. Sự rối loạn này khiến cơ thể giữ muối và nước, co mạch, tăng nhịp tim, dẫn đến các cơn tăng huyết áp đột ngột hoặc tăng huyết áp kéo dài, khó kiểm soát.

“Người bệnh thường có các biểu hiện như đau đầu dữ dội, hồi hộp, chóng mặt, vã mồ hôi, ớn lạnh, đau tức ngực. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như suy tim, đột quỵ, tổn thương thận khó hồi phục”, TS.Nguyễn Hoàng Đức cảnh báo.

Do khối u nằm sâu, phía sau tĩnh mạch chủ, mạch máu lớn nhất cơ thể và tiếp giáp các mạch máu quan trọng của thận phải, êkíp bác sỹ quyết định phẫu thuật cắt u với sự hỗ trợ của robot Da Vinci Xi.

Theo bác sỹ Đức, phương pháp này cho phép phóng đại hình ảnh lên đến 15 lần, giúp thao tác chính xác, bóc tách trọn vẹn khối u, hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương mạch máu lớn và rút ngắn thời gian phẫu thuật.

Trong quá trình mổ, khi êkíp vừa chạm vào khối u, huyết áp người bệnh có thời điểm tăng vọt lên 220/120 mmHg. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sỹ phẫu thuật và bác sỹ gây mê hồi sức đã giúp kiểm soát huyết áp kịp thời, bảo đảm ca mổ diễn ra an toàn và thành công sau hơn hai giờ.

Sau phẫu thuật, chị Hân hồi phục nhanh, ít đau, sớm trở lại sinh hoạt bình thường và được xuất viện sau 4 ngày. “Tôi thấy sức khỏe cải thiện rõ rệt, huyết áp ổn định hơn. Bác sỹ hướng dẫn sinh hoạt bình thường và tái khám định kỳ để theo dõi”, chị Hân chia sẻ.

Theo các chuyên gia, u tuyến thượng thận là một trong những nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát, thường gặp ở người trẻ, biểu hiện bằng các cơn tăng huyết áp kịch phát dữ dội hoặc tăng huyết áp kéo dài không đáp ứng thuốc.

Trước phẫu thuật, người bệnh thường được chỉ định dùng thuốc chẹn alpha, chẹn beta để kiểm soát huyết áp, giảm nguy cơ biến cố tim mạch trong mổ. Sau điều trị, việc tái khám định kỳ là cần thiết do u có nguy cơ tái phát hoặc di căn, đặc biệt với các trường hợp ác tính.

Hiện chưa có biện pháp phòng ngừa đặc hiệu u tuyến thượng thận do bệnh liên quan đến rối loạn nội tiết và yếu tố di truyền.

Tuy nhiên, bác sỹ khuyến cáo những người tăng huyết áp khởi phát sớm (trước 40 tuổi), huyết áp khó kiểm soát, dao động thất thường kèm các triệu chứng điển hình cần sớm khám chuyên khoa. Người có tiền sử gia đình, từng phẫu thuật u tuyến thượng thận hoặc mắc các bệnh nội tiết nên tái khám định kỳ, xét nghiệm hormone và chẩn đoán hình ảnh để phát hiện sớm, điều trị kịp thời.

Bên cạnh đó, duy trì lối sống lành mạnh như ăn nhạt, hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá, ngủ đủ giấc, kiểm soát căng thẳng và tập luyện thể thao đều đặn giúp ổn định huyết áp, bảo vệ tim mạch, giảm nguy cơ đột quỵ, suy tim và suy thận.

Basedow gây vô sinh thứ phát

Rối loạn nội tiết do Basedow có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản nếu không được kiểm soát kịp thời. Trường hợp một phụ nữ trẻ vô sinh thứ phát suốt nhiều năm cho thấy vai trò của điều trị liên chuyên khoa và hỗ trợ sinh sản hiện đại.

Chị Nhung, 29 tuổi, từng trải qua nhiều biến cố sản khoa. Sau một lần hút thai, ba năm sau chị mang thai ngoài tử cung và phải cắt bỏ vòi trứng trái. Bốn năm tiếp theo, vợ chồng không có thai trở lại dù không sử dụng biện pháp tránh thai.

Thăm khám tại viện cho thấy, chị bị tắc vòi trứng phải. Đồng thời, các xét nghiệm nội tiết ghi nhận nồng độ hormone tuyến giáp T3, T4 tăng cao, trong khi hormone kích thích tuyến giáp TSH giảm; siêu âm tuyến giáp cho thấy tình trạng phì đại.

Các bác sỹ chẩn đoán người bệnh mắc Basedow (cường giáp tự miễn) - một rối loạn hệ miễn dịch liên quan đến sự hoạt động quá mức của tuyến giáp, có thể ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng sinh sản.

Thạc sỹ, bác sỹ Nguyễn Lệ Thủy, Trung tâm IVF Tâm Anh cho biết, Basedow không trực tiếp gây vô sinh nhưng gây rối loạn nội tiết toàn thân. Khi hormone tuyến giáp tăng kéo dài, trục hạ đồi, tuyến yên, buồng trứng bị xáo trộn, dẫn đến rối loạn phóng noãn, kinh nguyệt không đều hoặc vô kinh.

“Tình trạng cường giáp còn làm tăng chuyển hóa, giảm dự trữ năng lượng và ảnh hưởng đến chất lượng trứng, khiến khả năng thụ tinh tự nhiên cũng như hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ sinh sản suy giảm”, bác sỹ Thủy phân tích.

Trước khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), người bệnh được chỉ định điều trị nội tiết nhằm đưa hormone tuyến giáp về ngưỡng ổn định. Êkíp liên chuyên khoa Nội tiết - Dinh dưỡng - Hỗ trợ sinh sản phối hợp xây dựng phác đồ cá thể hóa, giúp cơ thể sẵn sàng cho quá trình điều trị IVF, bảo đảm an toàn cho người mẹ và thai nhi.

Khi sức khỏe ổn định, chị Nhung được kích thích buồng trứng với liều nhẹ, giảm số mũi tiêm so với thông thường. Bác sỹ chọc hút thu được 20 nang noãn, thực hiện thụ tinh bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI). Các phôi tiếp tục được nuôi cấy trong hệ thống tủ động học timelapse tích hợp trí tuệ nhân tạo, thu được 7 phôi ngày 5.

Sau một tháng chuẩn bị niêm mạc theo phác đồ cá thể hóa, chị được chuyển một phôi ngày 5 vào buồng tử cung và có thai ngay.

Trong suốt thai kỳ, người bệnh được theo dõi sát bởi các bác sỹ chuyên khoa sản và nội tiết, định kỳ đánh giá chức năng tuyến giáp, điều chỉnh thuốc kịp thời để duy trì hormone ở ngưỡng an toàn. Tháng 9 vừa qua, chị Nhung sinh mổ một bé trai khỏe mạnh, nặng 4,3 kg.

Theo các chuyên gia, Basedow gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới, thường khởi phát trước 40 tuổi. Nguyên nhân bệnh chưa được xác định rõ, nhưng liên quan đến rối loạn miễn dịch. Các yếu tố nguy cơ gồm tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp, bệnh tự miễn, căng thẳng kéo dài, hút thuốc lá, phụ nữ mang thai hoặc mới sinh con.

Khi mắc bệnh, nữ giới có thể xuất hiện các triệu chứng như lo âu, dễ cáu kỉnh, run tay, nhạy cảm với nóng, tăng tiết mồ hôi, sụt cân, bướu cổ, rối loạn kinh nguyệt, tim đập nhanh, rối loạn nhịp tim, mắt lồi.

Với phụ nữ làm IVF, Basedow chưa được kiểm soát ổn định có thể làm giảm tỷ lệ thành công. Nồng độ hormone tuyến giáp cao ảnh hưởng đến quá trình kích thích buồng trứng, chất lượng phôi, đồng thời làm giảm khả năng phôi làm tổ, tăng nguy cơ sảy thai sớm.

Nếu mang thai khi bệnh chưa ổn định, nguy cơ tiền sản giật, sinh non, thai chậm phát triển, rối loạn chức năng tuyến giáp ở thai nhi cũng tăng lên đáng kể.

Bác sỹ Nguyễn Lệ Thủy lưu ý, nhiều bệnh lý nội khoa có thể ảnh hưởng âm thầm đến chức năng sinh sản như rối loạn tuyến giáp, đái tháo đường, hội chứng buồng trứng đa nang, bệnh tự miễn, thiếu vi chất kéo dài hoặc bệnh gan, thận mạn tính. Do triệu chứng không rõ ràng, các bệnh này dễ bị bỏ qua.

Các chuyên gia khuyến cáo, các cặp vợ chồng sau 1 năm chung sống (6 tháng với phụ nữ trên 35 tuổi) chưa có thai dù không sử dụng biện pháp tránh thai nên chủ động khám tiền mang thai và tầm soát sức khỏe toàn diện. Việc phát hiện sớm và kiểm soát tốt các bệnh lý tiềm ẩn không chỉ nâng cao khả năng thụ thai mà còn góp phần giảm biến chứng thai kỳ, giúp trẻ sinh ra khỏe mạnh.

Hẹp động mạch cảnh, nguyên nhân phổ biến gây đột quỵ

Nhiều trường hợp đột quỵ xảy ra dù người bệnh kiểm soát tốt huyết áp và sinh hoạt điều độ. Thực tế cho thấy hẹp động mạch cảnh, nguyên nhân phổ biến nhưng khó nhận biết có thể âm thầm tiến triển và gây tổn thương não nghiêm trọng.

Ông Trọng, 80 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường. Ông duy trì chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục hằng ngày, tái khám và dùng thuốc đều đặn theo chỉ định của bác sỹ. “Tôi nghĩ chỉ cần kiểm soát tốt huyết áp thì sẽ không bị đột quỵ”, ông chia sẻ.

Tuy nhiên, vào rạng sáng một ngày, ông Trọng đột ngột hoa mắt, vã mồ hôi, yếu dần nửa người trái, nói khó. Cho rằng huyết áp tăng cấp tính, ông tự uống thuốc hạ áp và nằm nghỉ. Dù triệu chứng giảm bớt, tình trạng mệt mỏi, lơ mơ vẫn kéo dài suốt 24 giờ. Người nhà sau đó đưa ông đến viện cấp cứu, khi đã sang ngày thứ hai kể từ lúc khởi phát triệu chứng.

Tại Khoa Nội thần kinh, các bác sỹ chẩn đoán ông bị đột quỵ nhồi máu não. Đây là tình trạng dòng máu cung cấp cho não bị giảm hoặc tắc đột ngột, khiến tế bào não thiếu oxy và dưỡng chất, dẫn đến tổn thương hoặc hoại tử.

Kết quả chụp CT não không ghi nhận tắc hay hẹp các mạch máu trong sọ. Trước diễn tiến lâm sàng, bác sỹ nghi ngờ nguyên nhân đến từ hệ mạch ngoài sọ và chỉ định siêu âm Doppler động mạch cảnh. Kết quả cho thấy động mạch cảnh trong bên phải bị hẹp trên 90% do mảng xơ vữa, làm giảm nghiêm trọng lượng máu lên não.

TS.Nguyễn Anh Dũng, Trưởng Khoa Ngoại Lồng ngực - Mạch máu, Trung tâm Ngoại Lồng ngực - Mạch máu cho biết, đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trên thế giới. Trong đó, hẹp động mạch cảnh chiếm khoảng 15% các trường hợp nhưng thường bị bỏ sót do bệnh tiến triển âm thầm, ít triệu chứng đặc hiệu.

“Mục tiêu điều trị đột quỵ nhồi máu não là ngăn chặn sự hình thành và lan rộng của cục máu đông”, TS.Nguyễn Anh Dũng cho biết. Ông Trọng được điều trị tích cực bằng thuốc kháng đông và kháng kết tập tiểu cầu.

Sau 7 ngày, tình trạng thần kinh ổn định, các triệu chứng hoa mắt, choáng váng cải thiện rõ rệt, người bệnh được chuyển sang Trung tâm Ngoại Lồng ngực - Mạch máu để xử lý tổn thương động mạch cảnh hẹp nặng.

Theo Ths.Lê Chí Hiếu, Trung tâm Ngoại Lồng ngực - Mạch máu, hiện có hai phương pháp điều trị ngoại khoa hẹp động mạch cảnh là phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh và đặt stent. Trong đó, phẫu thuật bóc mảng xơ vữa cho kết quả lâu dài tốt, thường được chỉ định với các trường hợp hẹp từ 60-99%, vị trí tổn thương thuận lợi và người bệnh không có nguy cơ cao khi phẫu thuật.

Với trường hợp của ông Trọng, êkíp lựa chọn phẫu thuật. Bác sỹ rạch da bộc lộ đoạn động mạch cảnh bị hẹp, kẹp tạm thời để kiểm soát dòng máu, sau đó bóc tách toàn bộ mảng xơ vữa bám trên thành mạch.

Trong suốt quá trình mổ, não vẫn được bảo đảm tưới máu nhờ hệ mạch đối bên và tuần hoàn bàng hệ. Các chỉ số huyết động được theo dõi chặt chẽ, duy trì huyết áp ở mức 130-140 mmHg, đồng thời kiểm soát tình trạng tái tưới máu não bằng thiết bị đo oxy mô não để kịp thời điều chỉnh.

Sau gần hai giờ, mảng xơ vữa được lấy bỏ hoàn toàn, lòng động mạch cảnh thông thoáng trở lại. Người bệnh hồi phục tốt, không ghi nhận biến chứng thần kinh, được xuất viện sau ba ngày và không để lại di chứng nhờ được cấp cứu và điều trị đúng phác đồ.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân phổ biến nhất gây hẹp động mạch cảnh là mảng xơ vữa do rối loạn chuyển hóa mỡ máu. Các yếu tố nguy cơ khác gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, béo phì, ít vận động, tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch.

Đáng lưu ý, hẹp động mạch cảnh thường không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ biểu hiện mơ hồ, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường, nên nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi đã xảy ra đột quỵ. Do đó, các đối tượng nguy cơ cao cần chủ động tầm soát bằng siêu âm động mạch cảnh để phát hiện sớm và có chiến lược điều trị phù hợp.

Các bác sỹ khuyến cáo, khi xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ đột quỵ như nói khó, méo miệng, yếu liệt một bên cơ thể, nhìn mờ hoặc mất thị lực, chóng mặt, mất thăng bằng, người bệnh cần đến bệnh viện ngay để được cấp cứu kịp thời, hạn chế tối đa nguy cơ tử vong và tàn phế.

Tin liên quan
Tin khác