Hành trình 72 ngày giữ sự sống cho em bé 800 gram
Hành trình giành sự sống của em bé bắt đầu từ một thai kỳ nhiều nguy cơ. Ở tuần thai thứ 18, sản phụ P.H.T. được phát hiện rau tiền đạo trung tâm, tình trạng sản khoa có nguy cơ gây chảy máu nghiêm trọng. Đến tuần thai thứ 24, siêu âm tiếp tục phát hiện thai nhi bị thông liên thất phần cơ tim.
| Ảnh minh họa. |
Sản phụ được chuyển đến Trung tâm Sàng lọc, Chẩn đoán trước sinh và sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội để thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu. Kết quả cho thấy thai nhi nghi ngờ có nang bạch huyết vùng cổ, đồng thời xét nghiệm di truyền phát hiện một biến thể dị hợp tử liên quan đến dị tật chi.
Trước hàng loạt bất thường, gia đình trải qua những ngày đầy lo lắng. Các bác sỹ tư vấn chọc ối nhằm đánh giá chính xác hơn tình trạng thai nhi, đồng thời chuẩn bị phương án theo dõi và xử trí phù hợp.
Biến cố xảy ra khi thai mới hơn 26 tuần. Đúng dịp Tết, người mẹ bất ngờ bị băng huyết và phải cấp cứu tại bệnh viện địa phương. Khi tình trạng ổn định hơn, gia đình đưa sản phụ đến Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội tiếp tục điều trị giữ thai. Khi đó, thai mới được 26 tuần 4 ngày.
Nỗ lực kéo dài thai kỳ thêm được hơn một tuần thì tình huống nguy hiểm tiếp tục xảy ra. Khoảng 22 giờ ngày 1/3, khi thai vừa tròn 28 tuần, sản phụ đột ngột băng huyết dữ dội, trong khi thai nhi được xác định chậm phát triển trong tử cung.
Trước nguy cơ đe dọa cả mẹ và con, các bác sỹ quyết định mổ cấp cứu ngay trong đêm. Chỉ khoảng 30 phút sau, em bé được đưa ra khỏi bụng mẹ với cân nặng vỏn vẹn 800 gram.
Trong ca mổ, người mẹ mất gần 2 lít máu. Ê-kíp phải khẩn trương kiểm soát tình trạng băng huyết, truyền máu và hồi sức để bảo toàn tính mạng sản phụ. Cùng thời điểm, một ê-kíp khác tiếp nhận, hồi sức cho em bé sinh cực non.
Sau những lo ngại trong thai kỳ, em bé chào đời không ghi nhận dị tật ở các chi. Tuy nhiên, với tuổi thai chỉ 28 tuần và cân nặng chưa đầy một kg, thử thách lớn nhất lúc này là giúp trẻ vượt qua giai đoạn sơ sinh đặc biệt nguy hiểm.
Bé phải thở máy xâm nhập trong 4 ngày, sau đó tiếp tục được hỗ trợ hô hấp không xâm nhập thêm 41 ngày. Phải đến ngày thứ 65 sau sinh, trẻ mới có thể hoàn toàn tự thở.
Hệ tiêu hóa chưa trưởng thành cũng khiến quá trình nuôi dưỡng gặp nhiều khó khăn. Bé ăn chậm tiêu, phải đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm để nuôi dưỡng tĩnh mạch bán phần. Lượng sữa được bắt đầu ở mức rất nhỏ rồi tăng dần dựa trên khả năng dung nạp của trẻ.
Trong khi con từng ngày chiến đấu trong lồng ấp, sức khỏe của người mẹ cũng chưa ổn định. Sau sinh 5 ngày, chị được xuất viện nhưng khoảng một tuần sau phải nhập viện trở lại do nhiễm trùng vết mổ và tiếp tục điều trị thêm 15 ngày.
Dù vậy, người mẹ vẫn cố gắng duy trì nguồn sữa cho con. Mỗi ngày, chị vắt sữa để người bố mang vào bệnh viện. Giữa lúc vợ phải điều trị, con sinh cực non nằm tại Khoa Sơ sinh và ở nhà còn một con nhỏ mới 3 tuổi, người bố liên tục di chuyển để chăm sóc cả gia đình.
Sự hồi phục của em bé được tính bằng từng thay đổi nhỏ về cân nặng, hô hấp và khả năng dung nạp dinh dưỡng. Sau 55 ngày kể từ khi chào đời, lần đầu tiên cha mẹ được đón con ra khỏi lồng ấp và ôm con vào lòng. Từ cân nặng ban đầu chỉ 800 gram, lúc này bé đã đạt khoảng 1,8 kg.
Đến ngày thứ 72, em bé đạt 2,4 kg, có thể tự thở và đủ điều kiện xuất viện. Từ một trẻ sinh cực non phải đặt nội khí quản hồi sức ngay sau chào đời, trải qua hàng chục ngày hỗ trợ hô hấp và nuôi dưỡng tích cực, bé cuối cùng đã có thể trở về nhà cùng gia đình.
Hiện cân nặng của bé đã đạt 4,6 kg. Hành trình từ 800 gram đến ngày xuất viện không chỉ cho thấy những thách thức đặc biệt trong chăm sóc trẻ sinh cực non, mà còn cho thấy ý nghĩa của việc theo dõi thai kỳ nguy cơ cao, xử trí sản khoa kịp thời và hồi sức sơ sinh chuyên sâu.
Với những trẻ chào đời quá sớm, từng ngày duy trì hô hấp, từng mililit sữa được dung nạp và từng gram cân nặng tăng thêm đều là những bước quan trọng trên hành trình giành lại sự sống.
Tự ý bỏ điều trị tiểu đường, người đàn ông 68 tuổi đột quỵ
Tiểu đường là bệnh mạn tính cần được kiểm soát lâu dài. Việc tự ý ngừng thuốc khi thấy sức khỏe ổn định có thể khiến đường huyết tăng cao, làm gia tăng nguy cơ tổn thương mạch máu, nhồi máu não và nhiều biến chứng nguy hiểm.
Ông Việt, 68 tuổi, mắc tiểu đường type 2 hơn 10 năm nhưng không duy trì thuốc đều đặn. Vài tháng gần đây, ông bỏ hẳn điều trị. Sau đó, người bệnh đột ngột xuất hiện tình trạng nói đớ, méo miệng, tê liệt nửa người và được gia đình đưa đến viện cấp cứu.
Khi nhập viện, nửa người bên trái của ông gần như không thể cử động. Kết quả chụp MRI sọ não ghi nhận tình trạng nhồi máu não đa ổ. Đáng chú ý, đường huyết của người bệnh tăng lên 250,6 mg/dL, trong khi mức bình thường dao động khoảng 70-100 mg/dL. Chỉ số HbA1c lên tới 10,9%, cho thấy tình trạng kiểm soát đường huyết kém kéo dài.
Ths.Nguyễn Thị Kim Tuyền, chuyên khoa Nội tiết - Đái tháo đường khi thăm khám cho bệnh nhân cho biết, người bệnh mắc tiểu đường nhiều năm nhưng sử dụng thuốc không đều và đã ngừng điều trị trong vài tháng. Tình trạng đường huyết không được kiểm soát kéo dài có thể làm tổn thương lớp nội mạc mạch máu, thúc đẩy quá trình xơ vữa và làm hẹp lòng mạch.
Khi đường huyết tăng cao, những rối loạn trong cơ thể có thể góp phần thúc đẩy hình thành cục máu đông, làm tắc nghẽn mạch máu não và dẫn tới nhồi máu não.
May mắn, ông Việt được đưa đến bệnh viện sớm, vào khoảng giờ thứ ba kể từ khi xuất hiện triệu chứng. Xác định đây là trường hợp nhồi máu não cấp còn trong thời gian có thể can thiệp, ê-kíp cấp cứu chỉ định sử dụng thuốc tiêu sợi huyết để tái thông mạch máu, đồng thời tiêm insulin dưới da nhằm kiểm soát đường huyết.
Khoảng 30 phút sau can thiệp, người bệnh đáp ứng tốt với thuốc, sức cơ bắt đầu cải thiện. Sau đó, ông tiếp tục được theo dõi, kiểm soát tiểu đường và kết hợp phục hồi chức năng.
Mặc dù mạch máu đã được tái thông, việc kiểm soát đường huyết vẫn được thực hiện chặt chẽ nhằm hạn chế nguy cơ biến chứng và tái phát đột quỵ. Sau hai tuần điều trị, ông Việt có thể bám tường để di chuyển chậm. Khả năng nói vẫn còn khó, giọng chưa trở lại bình thường nhưng tình trạng sức khỏe đủ ổn định để xuất viện và tiếp tục tập phục hồi chức năng tại nhà.
Từ trường hợp này, các bác sỹ cảnh báo một quan niệm khá phổ biến ở người mắc tiểu đường là khi đường huyết trở về mức ổn định hoặc cơ thể không còn biểu hiện bất thường thì bệnh đã khỏi và có thể ngừng thuốc.
Thực tế, tiểu đường type 2 là bệnh mạn tính liên quan đến rối loạn chuyển hóa, đòi hỏi quá trình quản lý lâu dài. Việc sử dụng thuốc đúng chỉ định, kết hợp chế độ dinh dưỡng, vận động và theo dõi các chỉ số sức khỏe là những yếu tố quan trọng để kiểm soát bệnh.
“Việc ngừng thuốc đột ngột sẽ khiến đường huyết tăng cao trở lại, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm”, bác sỹ Tuyền cảnh báo.
Một số người bệnh cũng lo ngại sử dụng thuốc lâu dài có thể gây “phụ thuộc thuốc” hoặc ảnh hưởng đến gan, thận nên tự ý giảm liều, ngừng thuốc. Tuy nhiên, bác sỹ cho rằng nguy cơ từ tình trạng tiểu đường không được kiểm soát lớn hơn nhiều so với nguy cơ của thuốc khi thuốc được sử dụng đúng chỉ định và có sự theo dõi của bác sỹ.
Do đó, người bệnh chỉ nên giảm liều hoặc ngừng thuốc sau khi được bác sỹ đánh giá đầy đủ tình trạng sức khỏe, mức đường huyết cũng như nguy cơ biến chứng. Việc tự ý bỏ thuốc chỉ vì cảm thấy khỏe hơn hoặc thấy đường huyết tạm thời ổn định có thể khiến bệnh tiếp tục tiến triển mà người bệnh không nhận biết được.
Đặc biệt, mối liên hệ giữa tiểu đường và bệnh lý tim mạch, đột quỵ cần được chú ý. Bác sỹ Tuyền cho biết người mắc tiểu đường có nguy cơ đột quỵ cao hơn 2-4 lần so với người bình thường. Khi đột quỵ xảy ra trên nền đường huyết kiểm soát kém, nguy cơ tử vong và các di chứng sau đột quỵ cũng có thể nghiêm trọng hơn.
Vì vậy, kiểm soát tốt đường huyết và huyết áp là những yếu tố quan trọng trong phòng ngừa đột quỵ ở người mắc tiểu đường. Người bệnh cần tuân thủ phác đồ điều trị, tái khám định kỳ và không tự ý thay đổi thuốc dù chưa xuất hiện triệu chứng bất thường.
Vi khuẩn răng miệng có thể tấn công tim, gây biến chứng nguy hiểm
Nhiễm khuẩn răng miệng không chỉ gây tổn thương tại chỗ. Vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu, tấn công van tim, gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, suy tim và nhiều biến chứng đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Hai tháng sốt, ho và đau họng dai dẳng, chị Nhàn, 24 tuổi, từng nghĩ mình mắc bệnh đường hô hấp. Tuy nhiên, khi được thăm khám chuyên sâu, các bác sỹ phát hiện người bệnh bị hở van hai lá nặng, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng do vi khuẩn thường hiện diện trong khoang miệng.
Trước đó, chị Nhàn xuất hiện sốt, ho, đau họng và được chẩn đoán viêm họng tại một cơ sở y tế. Sau hai tuần dùng thuốc, triệu chứng giảm nhưng khi hết thuốc, tình trạng sốt trở lại. Nhiệt độ cơ thể thường xuyên ở mức 38-38,5 độ C.
Hơn một tháng tiếp theo, những cơn sốt và ho vẫn dai dẳng, thường sốt vào buổi chiều, ho nhiều hơn về đêm. Dần dần, người bệnh xuất hiện khó thở, mệt nhiều và vã mồ hôi.
Khi đến viện, Ths.Nguyễn Thị Ngọc, chuyên khoa Nội tim mạch phát hiện tiếng thổi bất thường ở tim. Siêu âm cho thấy van hai lá hở nặng do đứt dây chằng, đồng thời xuất hiện khối sùi di động bám trên van.
Kết quả cấy máu sau đó xác định người bệnh nhiễm Streptococcus sanguinis, một loại vi khuẩn thường có trong khoang miệng và hầu họng. Các bác sỹ chẩn đoán chị Nhàn bị viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, gây tổn thương van tim.
Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng xảy ra khi vi khuẩn hoặc các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào máu, di chuyển đến tim và gây nhiễm trùng tại lớp nội tâm mạc hoặc van tim. Nguồn vi khuẩn có thể xuất phát từ những ổ nhiễm trùng ở các bộ phận khác của cơ thể, trong đó khoang miệng là một trong những đường xâm nhập cần lưu ý.
Trường hợp chị Nhàn có tiền sử viêm họng, viêm nướu và đang niềng răng nên việc vệ sinh răng miệng khó khăn hơn. Bác sỹ nhận định đây có thể là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn từ khoang miệng xâm nhập vào máu, tới tim và hình thành khối sùi trên van tim.
Tổn thương không dừng lại ở tình trạng nhiễm trùng. Dây chằng van hai lá của người bệnh bị đứt, dẫn đến sa lá van và hở van nặng. Khi được hội chẩn giữa các chuyên khoa Nội và Ngoại tim mạch, chị Nhàn đã có tình trạng tăng áp lực động mạch phổi, suy tim độ II-III do biến chứng của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
Các bác sỹ quyết định ưu tiên kiểm soát nhiễm trùng trước khi phẫu thuật. Sau khoảng ba tuần điều trị kháng sinh, tình trạng nhiễm trùng đáp ứng tốt, người bệnh được lên kế hoạch can thiệp sửa chữa van tim.
Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp ghi nhận van hai lá hở nặng do đứt dây chằng lá van trước, có khối sùi màu trắng nhạt, trong khi những thành phần khác của van vẫn còn tương đối tốt. Thay vì thay van, các bác sỹ lựa chọn sửa chữa và bảo tồn van hai lá.
Ê-kíp cắt bỏ phần lá van tổn thương và khối sùi, khâu rút ngắn dây chằng, bít tiểu nhĩ trái, đồng thời đặt vòng van nhân tạo nhằm tái lập hình dạng, độ vững và khả năng đóng kín của van.
Người bệnh còn rất trẻ nên việc sửa chữa và giữ lại được van hai lá không chỉ giúp bảo tồn chức năng tim mà còn hạn chế những vấn đề liên quan đến việc phải sử dụng thuốc chống đông kéo dài nếu phải thay bằng một số loại van nhân tạo.
Sau phẫu thuật khoảng 4 giờ, chị Nhàn được rút nội khí quản và rời phòng hồi sức sau chưa đầy 24 giờ. Chức năng co bóp của tim tốt, van hoạt động ổn định. Người bệnh tiếp tục được sử dụng kháng sinh để hoàn thành liệu trình điều trị viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
Các bác sỹ cảnh báo viêm nội tâm mạc nhiễm trùng là bệnh lý có thể để lại hậu quả nghiêm trọng nếu chẩn đoán muộn. Nhiễm trùng có thể phá hủy cấu trúc van, gây hở van và tiến triển thành suy tim. Người bệnh cũng có nguy cơ xuất hiện áp xe trong tim, tổn thương hệ thống dẫn truyền gây rối loạn nhịp hoặc block nhĩ thất.
Đáng lo ngại hơn, các khối sùi hình thành trong tim có thể bong ra, di chuyển theo dòng máu và gây tắc mạch. Nếu đến mạch máu não, người bệnh có nguy cơ đột quỵ; nếu đến các mạch tạng có thể gây thiếu máu, nhồi máu cơ quan; trong khi tắc động mạch ngoại vi có thể dẫn đến thiếu máu cấp ở các chi. Nhiễm khuẩn cũng có khả năng gây những tổn thương mạch máu ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể.
Từ trường hợp này, bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc khuyến cáo chăm sóc răng miệng cần được nhìn nhận như một phần của bảo vệ sức khỏe toàn thân, đặc biệt đối với những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Người dân nên vệ sinh răng miệng đúng cách và khám nha khoa định kỳ để phát hiện, điều trị sớm các ổ viêm nhiễm.
Với người đang niềng răng, việc làm sạch răng, kẽ răng và khu vực quanh khí cụ càng cần được chú trọng do thức ăn dễ mắc lại, tạo điều kiện cho mảng bám và vi khuẩn phát triển.
Đặc biệt, những người có bệnh tim bẩm sinh, bệnh lý van tim, từng phẫu thuật hoặc can thiệp tim, có van hay vật liệu nhân tạo trong tim cần chú ý hơn đến nguy cơ nhiễm trùng. Khi xuất hiện những biểu hiện như sốt kéo dài, mệt mỏi, xanh xao không rõ nguyên nhân hoặc các triệu chứng bất thường khác, người bệnh cần đi khám để xác định nguyên nhân.
Một ổ viêm tưởng như chỉ khu trú ở răng, nướu hay khoang miệng trong những điều kiện nhất định có thể trở thành nguồn vi khuẩn xâm nhập vào máu và gây tổn thương tim. Vì vậy, chủ động chăm sóc sức khỏe răng miệng không chỉ giúp bảo vệ hàm răng mà còn góp phần phòng ngừa những biến chứng toàn thân nghiêm trọng.