Đau vai gáy kéo dài, phát hiện dị dạng não hiếm gặp kèm rỗng tủy
Anh Huy bị đau vùng vai gáy từ khoảng 4 năm trước, cơn đau lan xuống cánh tay trái, kèm tê bì và co cứng vùng bả vai. Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ khi đó ghi nhận tình trạng rỗng tủy, tuy nhiên do triệu chứng còn nhẹ nên chưa được chỉ định phẫu thuật.
Tình trạng bệnh tiến triển âm thầm nhưng ngày càng nặng. Đến năm 2022, sức cơ tay giảm rõ, xuất hiện teo cơ, cầm nắm khó khăn, không bê được vật nặng. Ba ngón tay phải co quắp, run yếu, khó duỗi. Gần đây, các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn với đau đầu tăng khi ho, hắt hơi hoặc gắng sức, kèm teo cơ bàn tay, tê bì lan rộng và hạn chế vận động các ngón IV, V, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt.
| Các bác sỹ khuyến cáo, khi xuất hiện đau đầu vùng sau gáy kéo dài, kèm tê yếu chi, teo cơ hoặc rối loạn vận động tiến triển, người bệnh cần đi khám chuyên khoa thần kinh sớm để được chẩn đoán chính xác. |
Lo ngại tổn thương thần kinh trung ương hoặc đột quỵ, anh Huy đến viện thăm khám. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não cho thấy hạnh nhân tiểu não tụt thấp khoảng 13 mm dưới lỗ chẩm. Hệ thống mạch máu não không phát hiện bất thường lớn, tuy nhiên ghi nhận động mạch đốt sống trái nhỏ, có thể ảnh hưởng đến tưới máu vùng thân não.
Kết quả MRI sọ não và cột sống cổ sau đó xác định rõ hơn: hạnh nhân tiểu não tụt thấp khoảng 11 mm, chèn ép hành não và tủy cổ cao. Đồng thời, bệnh nhân có rỗng tủy kéo dài từ đốt sống C2 đến T3, dài khoảng 14 cm. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây teo cơ và rối loạn vận động tiến triển.
Theo Ths.Bùi Khương Duy, chuyên khoa Ngoại Thần kinh - Cột sống, đây là trường hợp điển hình của dị dạng Chiari type I hiếm gặp, đặc trưng bởi sự sa xuống bất thường của mô não vào ống tủy sống. Bệnh có thể gây chèn ép kéo dài lên thân não và tủy sống, dẫn đến các rối loạn thần kinh nặng nề nếu không được điều trị kịp thời.
Đáng chú ý, triệu chứng của bệnh thường không đặc hiệu, dễ bị nhầm với các bệnh lý cột sống cổ hoặc thậm chí đột quỵ, đặc biệt khi khởi phát bằng yếu chi hoặc rối loạn vận động.
Ngày 18/11/2025, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật giải ép hố sau nhằm giải phóng chèn ép và khôi phục lưu thông dịch não tủy. Ca mổ kéo dài khoảng 3 giờ. Bác sỹ tiến hành cắt một phần xương chẩm và cung sau đốt sống cổ C1 để tạo không gian cho tiểu não, sau đó mở màng cứng và vá rộng bằng mảnh ghép nhằm cải thiện dòng chảy dịch não tủy.
Dưới kính vi phẫu, từng mạch máu và cấu trúc thần kinh được quan sát rõ, giúp thao tác chính xác và hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương. Hệ thống theo dõi điện sinh lý thần kinh được sử dụng liên tục trong suốt quá trình phẫu thuật để đảm bảo an toàn cho thân não và tủy cổ.
Theo bác sỹ, thách thức lớn nhất của ca mổ là cấu trúc giải phẫu vùng hố sau bị biến đổi, làm tăng nguy cơ chảy máu và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, tình trạng tiểu não tụt thấp che kín lỗ Magendie gây hạn chế tầm nhìn, đòi hỏi phẫu thuật viên phải thao tác thận trọng. Việc mở và vá màng cứng cũng tiềm ẩn nguy cơ rò dịch não tủy sau mổ.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân tỉnh táo, tự thở tốt và được tập phục hồi chức năng từ ngày thứ hai. Đến ngày thứ ba, tình trạng đau đầu và tê bì hai tay cải thiện rõ rệt. Theo bác sỹ, các triệu chứng này thường giảm dần trong vài tuần, trong khi rỗng tủy cần từ 6 tháng đến một năm để thu nhỏ và phục hồi chức năng thần kinh.
Sau một tuần theo dõi, bệnh nhân hồi phục tốt, không ghi nhận biến chứng và được xuất viện, tiếp tục theo dõi định kỳ.
Theo các chuyên gia, hội chứng Arnold-Chiari giai đoạn sớm thường không có biểu hiện rõ ràng và nhiều trường hợp được phát hiện tình cờ qua MRI. Triệu chứng điển hình là đau đầu vùng chẩm, tăng khi ho, hắt hơi hoặc gắng sức. Ngoài ra, người bệnh có thể gặp chóng mặt, mất thăng bằng, tê yếu tay chân, khó nuốt hoặc rối loạn giọng nói cho thấy tình trạng chèn ép thân não hoặc tủy sống.
Các bác sỹ khuyến cáo, khi xuất hiện đau đầu vùng sau gáy kéo dài, kèm tê yếu chi, teo cơ hoặc rối loạn vận động tiến triển, người bệnh cần đi khám chuyên khoa thần kinh sớm để được chẩn đoán chính xác, tránh bỏ sót những bệnh lý hiếm nhưng có thể gây hậu quả nặng nề nếu điều trị muộn.
Suy đa tạng sau Covid-19, người đàn ông 59 tuổi hồi phục ngoạn mục từ 40 kg
Từng nguy kịch phải chạy ECMO, suy thận nặng hậu Covid-19, người đàn ông 59 tuổi nay phục hồi gần như bình thường, có thể bơi lội, chạy bộ sau hành trình điều trị kéo dài nhiều năm.
Một ngày đầu năm 2026, ông Hùng (59 tuổi, Quảng Ngãi) quay lại tái khám tại viện, ít ai nghĩ rằng người đàn ông có thể tự đi lại, sinh hoạt bình thường, thậm chí chơi thể thao này từng ở ranh giới sống, chết chỉ vài năm trước.
Năm 2022, ông mắc Covid-19 thể nặng, dẫn đến suy đa tạng. Phổi và tim không còn khả năng duy trì chức năng sống, buộc phải can thiệp ECMO (tim phổi nhân tạo) suốt 3 tháng. Sau khi thoát khỏi nguy kịch, cơ thể ông suy kiệt, cân nặng chỉ còn 40 kg và xuất hiện suy thận cấp. Khi được chuyển đến viện, ông gần như không thể tự ngồi dậy, mọi sinh hoạt đều cần hỗ trợ. “Có lúc tôi nghĩ mình chỉ còn tồn tại, chứ không còn là sống”, ông Hùng nhớ lại.
Theo bác sỹ Tạ Phương Dung, chuyên khoa tiết niệu, thận học, nam khoa, thời điểm nhập viện, độ lọc cầu thận của ông Hùng chỉ khoảng 30 mL/phút/1.73m², tương đương suy thận mạn giai đoạn 3b. Đây là tình trạng tổn thương thận phức tạp, xuất phát từ hai nguyên nhân chính: di chứng viêm toàn thân sau Covid-19 và suy kiệt kéo dài khiến cơ thể không đủ năng lượng để phục hồi.
Bên cạnh đó, phổi bị xơ hóa gây thiếu oxy mạn tính càng làm suy giảm chức năng thận. Việc điều trị trở nên đặc biệt khó khăn khi bệnh nhân vừa suy thận, vừa suy dinh dưỡng nặng. Nếu bổ sung dinh dưỡng không phù hợp, thận sẽ phải làm việc quá sức và có nguy cơ suy nhanh hơn; ngược lại, nếu thiếu dinh dưỡng, cơ thể không thể hồi phục.
“Đây là bài toán cân bằng rất khó. Chỉ cần lệch một chút, thận có thể xấu đi nhanh chóng”, bác sỹ Dung cho biết. Do vậy, ê-kíp điều trị phải kết hợp nhiều biện pháp cùng lúc: bù dịch có kiểm soát, điều chỉnh rối loạn điện giải và toan chuyển hóa, theo dõi sát huyết áp, nhịp tim và lượng nước tiểu. Phác đồ điều trị liên tục được điều chỉnh theo từng ngày, tùy vào đáp ứng của người bệnh.
Song song, chế độ dinh dưỡng được cá thể hóa, ưu tiên các nguồn đạm chất lượng cao, dễ tiêu hóa như lòng trắng trứng, cá, thịt trắng, vừa đảm bảo năng lượng vừa hạn chế gánh nặng chuyển hóa cho thận. Các chỉ số như ure, creatinin được theo dõi sát để điều chỉnh kịp thời.
Sau hơn một tháng điều trị, tình trạng của ông Hùng cải thiện rõ rệt, độ lọc cầu thận tăng lên gần 40 mL/phút/1.73m², cân nặng dần hồi phục. Tuy nhiên, hành trình điều trị không dừng lại ở đó.
Đầu năm 2024, do chủ quan trong ăn uống, chức năng thận của ông giảm xuống mức nguy hiểm, suýt chuyển sang suy thận độ 4 và phải nhập viện cấp cứu. Lần này, các bác sỹ tiếp tục điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, kiểm soát dịch truyền và điện giải, giúp chức năng thận phục hồi chỉ sau một tuần.
Đến nay, sau 4 năm điều trị và theo dõi định kỳ, độ lọc cầu thận của ông Hùng duy trì ổn định ở mức 38,9 mL/phút/1.73m². Từ một người suy đa tạng, không thể tự vận động, ông đã tăng cân lên khoảng 70 kg, có thể bơi biển mỗi sáng, chơi thể thao và tiếp tục công việc kinh doanh.
Theo bác sỹ Dung, với bệnh thận mạn, nếu kiểm soát tốt huyết áp, chế độ ăn và tuân thủ điều trị, người bệnh có thể chung sống ổn định với bệnh trong nhiều năm mà không cần chạy thận.
Các chuyên gia cho biết, Covid-19 và suy thận có mối liên hệ chặt chẽ. Virus SARS-CoV-2 có thể gây viêm toàn thân, tổn thương mạch máu và mô thận, dẫn đến suy thận cấp ngay cả ở người không có tiền sử bệnh. Ngoài ra, tình trạng thiếu oxy và rối loạn đông máu trong Covid-19 cũng góp phần làm tổn thương các đơn vị lọc của thận.
Ngược lại, người mắc bệnh thận mạn lại có nguy cơ nhiễm Covid-19 cao hơn do hệ miễn dịch suy giảm và thường đi kèm nhiều bệnh nền như tăng huyết áp, tiểu đường.
Đáng lưu ý, ngay cả sau khi khỏi Covid-19, chức năng thận ở một số người vẫn có thể bị ảnh hưởng lâu dài. Vì vậy, bác sỹ khuyến cáo người từng mắc Covid-19 nên kiểm tra chức năng thận sau 3-6 tháng. Với người đã mắc bệnh thận, cần tuân thủ điều trị, kiểm soát huyết áp và đường huyết để hạn chế nguy cơ biến chứng.
Trường hợp của ông Hùng cho thấy, dù tổn thương nặng nề sau Covid-19, người bệnh vẫn có thể hồi phục nếu được điều trị đúng hướng, theo dõi lâu dài và kiên trì tuân thủ phác đồ.
Đau ngực kéo dài, nghiện thuốc giảm đau vì u phổi hiếm gặp
Đau ngực âm ỉ kéo dài, điều trị nhiều nơi không hiệu quả, nam bệnh nhân 29 tuổi phải dùng thuốc giảm đau liều cao dẫn đến lệ thuộc, trước khi được xác định mắc ung thư mạch máu thể hiếm và phẫu thuật triệt căn.
Sau hai tuần xuất hiện cơn đau tức ngực, anh Thanh (29 tuổi) đi khám và phát hiện có khối u ở phổi. Trong 5 tháng tiếp theo, anh điều trị tại nhiều cơ sở trong và ngoài nước, trải qua nhiều phương pháp như truyền hóa chất, cấy hạt phóng xạ, đốt u bằng khí Argon. Tuy nhiên, bệnh không thuyên giảm, cơn đau ngày càng dữ dội.
“Tôi được bơm tắc mạch 5 lần, đến lần thứ 6 thì phải từ chối vì cơ thể đã kiệt quệ”, anh Thanh cho biết. Khi khối u lan rộng, anh buộc phải sử dụng thuốc giảm đau liều cao kéo dài, dẫn đến lệ thuộc. Các triệu chứng cai thuốc xuất hiện như bồn chồn, đau cơ, mất ngủ, luôn có cảm giác thèm thuốc.
Tại cơ sở y tế, kết quả chụp CT ngực cho thấy khối u nằm ở thùy giữa phổi phải. Sinh thiết trước đó xác định u nội mô mạch máu dạng biểu mô (Epithelioid Hemangioendothelioma - EHE), song chưa đủ cơ sở khẳng định do mẫu bệnh phẩm nhỏ.
PGS-TS.Vũ Hữu Vĩnh, người trực tiếp điều trị cho bệnh nhân cho hay, quyết định phẫu thuật triệt căn để vừa điều trị vừa xác định bản chất khối u. Khi mở lồng ngực, êkíp ghi nhận thùy giữa phổi phải đã đông đặc, cứng như đá. Khối u xâm lấn thành ngực và cơ hoành, kèm nhiều viên phóng xạ đã được cấy từ các đợt điều trị trước.
Do ảnh hưởng của xạ trị, các mô bị xơ hóa và dính chặt vào nhau, làm mất ranh giới giải phẫu, khiến việc bóc tách trở nên đặc biệt khó khăn. Êkíp phải sử dụng dụng cụ vi phẫu, thao tác từng milimet để tách khối u khỏi cơ hoành và thành ngực, tránh tổn thương các cơ quan lân cận.
Tại vùng rốn phổi, nơi tập trung nhiều mạch máu lớn, các bác sỹ phải tỉ mỉ thắt và cắt từng nhánh mạch nuôi khối u, đồng thời bảo tồn hệ thống mạch máu nuôi các phần phổi lành.
Ca phẫu thuật kéo dài 6 giờ, êkíp đã cắt bỏ hoàn toàn khối u, bảo tồn được thùy trên và thùy dưới, đảm bảo chức năng hô hấp. Sau mổ 3 ngày, bệnh nhân hết đau ngực, được chăm sóc chống nhiễm trùng và giảm xơ hóa phổi, xuất viện sau 6 ngày trong tình trạng ổn định.
Song song điều trị, bệnh nhân được tư vấn cai nghiện thuốc giảm đau (morphine) bằng các phương pháp như châm cứu, hỗ trợ tâm lý, dùng thuốc và điều chỉnh lối sống.
Kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật xác nhận chẩn đoán u nội mô mạch máu dạng biểu mô (EHE), loại ung thư mạch máu cực hiếm, với tỷ lệ mắc chỉ khoảng 0,23/1.000.000 người mỗi năm.
Sau gần nửa năm điều trị ở nước ngoài với chi phí lên đến hàng tỷ đồng nhưng không hiệu quả, bệnh nhân cho biết việc điều trị trong nước mang lại kết quả rõ rệt, với chi phí chỉ bằng khoảng 1/10.
Theo PGS.Vĩnh, trường hợp này cho thấy không phải mọi khối u phổi đều là các thể ung thư phổ biến, và việc chẩn đoán chính xác đóng vai trò quyết định trong lựa chọn phương pháp điều trị. Các can thiệp không phù hợp hoặc kéo dài có thể khiến bệnh tiến triển nặng hơn, đồng thời làm tăng nguy cơ biến chứng và suy giảm chất lượng sống.
Các chuyên gia khuyến cáo, khi có các triệu chứng như đau ngực kéo dài, khó thở, ho ra máu, người bệnh cần đi khám sớm tại cơ sở chuyên khoa. Việc tầm soát bằng X-quang, CT liều thấp và sinh thiết giúp phát hiện sớm, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với các bệnh lý hiếm nhưng nguy hiểm như ung thư mạch máu.