Chủ quan với khối bất thường suốt 5 năm, người phụ nữ phát hiện ung thư
Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC vừa phát hiện trường hợp ung thư tuyến vú xâm nhập ở người phụ nữ 57 tuổi, trú tại Hà Nội, sau nhiều năm bệnh nhân phát hiện khối bất thường nhưng chưa thăm khám.
Người bệnh cho biết đã tự sờ thấy một khối ở ngực phải cách đây hơn 5 năm. Do không đau và chưa ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt, bệnh nhân chưa đến cơ sở y tế kiểm tra. Khoảng một năm gần đây, khối tăng kích thước nhanh hơn, buộc người bệnh phải đi khám.
| Ảnh minh họa. |
Qua thăm khám lâm sàng, các bác sỹ ghi nhận khối u kích thước khoảng 3 x 3 cm, mật độ chắc, di động kém, kèm biến đổi bề mặt da và co kéo núm vú. Mặc dù không có hiện tượng tiết dịch bất thường, những đặc điểm này vẫn gợi ý nguy cơ tổn thương ác tính, cần được đánh giá bằng các phương pháp chẩn đoán chuyên sâu.
Ths.Phạm Như Ánh, chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC cho biết, bệnh nhân được chỉ định siêu âm kết hợp chụp X-quang tuyến vú nhằm xác định vị trí, kích thước và đặc điểm tổn thương.
Tổng hợp các đặc điểm hình ảnh, tổn thương được phân loại BI-RADS 5, mức đánh giá có nguy cơ ác tính rất cao. Đây là cơ sở để bác sỹ chỉ định sinh thiết nhằm xác định bản chất khối u.
Sau khi có kết quả sinh thiết, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Ung bướu Hà Nội để hoàn thiện chẩn đoán, đánh giá giai đoạn và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp.
Số liệu GLOBOCAN được dẫn trong tài liệu cho thấy Việt Nam ước tính ghi nhận 25.711 ca mắc mới và 10.609 ca tử vong do căn bệnh này. Đáng quan tâm, tỷ lệ người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn còn cao, ảnh hưởng đến khả năng điều trị và tiên lượng sống.
Ths.Phạm Như Ánh cho biết, nguy cơ mắc ung thư tăng theo tuổi, đặc biệt ở phụ nữ trên 40 tuổi. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xuất hiện ở người trẻ, kể cả những trường hợp trong độ tuổi 20-30.
Các bác sỹ khuyến cáo phụ nữ cần thăm khám nếu phát hiện khối bất thường ở ngực hoặc vùng nách, khối tăng dần kích thước, bề mặt da co kéo, biến đổi hình dạng núm vú, tiết dịch bất thường hoặc xuất hiện những thay đổi kéo dài chưa rõ nguyên nhân.
Đặc biệt, những dấu hiệu như khối chắc, bờ không đều, di động kém hoặc gây co kéo da cần được đánh giá sớm, kể cả trong trường hợp người bệnh không đau.
Phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng điều trị triệt căn. Tùy đặc điểm tổn thương, bác sỹ có thể lựa chọn phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị nội tiết, thuốc nhắm trúng đích hoặc kết hợp nhiều phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
Cùng với sàng lọc bằng hình ảnh, phụ nữ nên chủ động quan sát, nhận biết những thay đổi bất thường của cơ thể để kịp thời thăm khám. Việc tự kiểm tra giúp tăng khả năng nhận biết dấu hiệu nhưng không thay thế các phương pháp sàng lọc được khuyến cáo.
Đối với tổn thương nghi ngờ ác tính, sự phối hợp giữa khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, sinh thiết, giải phẫu bệnh và xét nghiệm hóa mô miễn dịch giữ vai trò quyết định trong xác định chính xác bản chất khối u.
Thông tin về đặc điểm mô học, thụ thể nội tiết, HER2 cùng các yếu tố liên quan sẽ giúp bác sỹ lựa chọn hướng điều trị phù hợp với từng bệnh nhân, hạn chế những can thiệp không cần thiết và tối ưu hóa hiệu quả chăm sóc.
Phẫu thuật robot lấy máu tụ não cho bệnh nhân đột quỵ đang dùng thuốc chống đông
Bị đột quỵ xuất huyết não với khối máu tụ gần 70 ml nằm sâu trong não, người đàn ông 57 tuổi đối mặt nguy cơ tổn thương thần kinh nghiêm trọng. Các bác sỹ phải vừa điều chỉnh tình trạng rối loạn đông máu, vừa khẩn trương phẫu thuật dưới sự hỗ trợ của robot để giải phóng chèn ép não.
Bệnh nhân Thanh, 57 tuổi, bị đột quỵ xuất huyết não với khối máu tụ lớn nằm sâu tại nhân bèo trái, gây chèn ép nhu mô não và yếu liệt nửa người phải. Ca bệnh đặc biệt phức tạp do người bệnh đang sử dụng thuốc chống đông để điều trị bệnh nền, làm tăng nguy cơ chảy máu trong quá trình can thiệp.
Ngay sau khi bệnh nhân được gia đình đưa đến cấp cứu, bệnh viện kích hoạt quy trình báo động đột quỵ (Code Stroke), huy động ê-kíp đa chuyên khoa nhanh chóng thăm khám, thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và xác định phương án điều trị.
ThS.BS.CKII Chu Tấn Sĩ, chuyên khoa ngoại thần kinh - cột sống cho biết, kết quả chụp CT sọ não ghi nhận khối xuất huyết thể tích gần 70 ml tại nhân bèo trái, vị trí nằm sâu trong bán cầu não.
Khối máu tụ gây hiệu ứng choán chỗ, chèn ép các cấu trúc thần kinh lân cận. Trong quá trình theo dõi, tri giác bệnh nhân tiếp tục suy giảm, sức cơ nửa người phải yếu rõ, cho thấy nguy cơ tổn thương não tiến triển.
Trước diễn biến này, các bác sỹ quyết định phẫu thuật khẩn cấp lấy máu tụ nhằm giảm chèn ép nhu mô não. Tuy nhiên, quá trình điều trị gặp trở ngại lớn do bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông, khiến khả năng cầm máu bị ảnh hưởng và làm gia tăng nguy cơ xuất huyết trong, sau phẫu thuật.
Bệnh nhân được truyền các chế phẩm máu phù hợp theo chỉ định nhằm hỗ trợ quá trình đông cầm máu, hạn chế nguy cơ xuất huyết tiếp diễn hoặc tái chảy máu sau phẫu thuật. Cùng thời điểm, các bác sỹ gây mê hồi sức theo dõi sát huyết động, xét nghiệm đông máu và những chỉ số liên quan để kịp thời điều chỉnh điều trị.
Dưới sự hỗ trợ của hệ thống định vị và robot, bác sỹ tạo đường tiếp cận nhỏ, sử dụng ống nong đưa dụng cụ từng bước đến vùng xuất huyết. Qua lòng ống, máu tụ được hút ra từng phần, kết hợp kiểm tra và xử lý các điểm chảy máu.
Kỹ thuật sử dụng ống nong giúp tạo lối tiếp cận tổn thương nằm sâu bằng cách tách nhẹ mô não xung quanh, hạn chế nhu cầu mở rộng đường mổ hoặc tác động không cần thiết đến các cấu trúc lành.
Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi tích cực, kiểm soát huyết áp, các chỉ số đông máu và nguy cơ tái xuất huyết. Sau một tuần, ông Thanh đã có thể tự ngồi dậy, giao tiếp với người thân, vận động tay chân bên phải tốt hơn và bắt đầu tập đi.
Những cải thiện bước đầu tạo điều kiện để người bệnh chuyển sang chương trình phục hồi chức năng, tập trung khôi phục vận động, khả năng đi lại và thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
ThS.BS.CKII Chu Tấn Sĩ nhận định, đối với những trường hợp xuất huyết não thể tích lớn, vị trí sâu và kèm rối loạn đông máu, hiệu quả điều trị phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa cấp cứu đột quỵ, gây mê hồi sức và ngoại thần kinh.
Từ trường hợp này, bác sỹ Chu Tấn Sĩ khuyến cáo người đang sử dụng thuốc chống đông phải tuân thủ đúng hướng dẫn, tái khám định kỳ và thực hiện các xét nghiệm theo dõi cần thiết tùy loại thuốc. Việc tự ý tăng, giảm liều hoặc ngừng thuốc có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, bao gồm xuất huyết hoặc hình thành huyết khối.
Đặc biệt, người dân cần nhận biết sớm những dấu hiệu cảnh báo đột quỵ như méo miệng, yếu hoặc tê đột ngột một bên cơ thể, nói khó, mất thăng bằng, đau đầu dữ dội bất thường hoặc suy giảm ý thức.
Nếu xuất hiện các biểu hiện trên, cần gọi cấp cứu 115 để được đưa đến cơ sở y tế có khả năng điều trị đột quỵ càng sớm càng tốt, tránh tự sử dụng thuốc hoặc chờ triệu chứng thuyên giảm.
Lạm dụng nội soi, chụp CT, MRI có thể gây những hệ lụy không cần thiết
Nhiều người chủ động yêu cầu nội soi, chụp CT hoặc MRI ngay khi xuất hiện đau bụng, đau đầu hay ho kéo dài vì lo ngại mắc bệnh nghiêm trọng. Tuy nhiên, các bác sỹ cảnh báo việc thực hiện kỹ thuật chẩn đoán thiếu chỉ định phù hợp có thể gây tốn kém, tạo thêm áp lực tâm lý và dẫn đến những can thiệp không cần thiết.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng giá trị của một kỹ thuật chẩn đoán không nằm ở mức độ hiện đại hay chi phí thực hiện mà ở khả năng giải đáp đúng vấn đề sức khỏe của người bệnh. Chỉ định không phù hợp có thể làm gia tăng chi phí, phát hiện những bất thường không có ý nghĩa bệnh lý và kéo theo hàng loạt xét nghiệm bổ sung.
Theo một bác sỹ đang công tác ở TP.HCM, những biểu hiện như đau bụng kéo dài, đầy hơi, đau đầu dai dẳng hoặc ho nhiều tuần khá phổ biến trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng cần thực hiện ngay các kỹ thuật cận lâm sàng chuyên sâu.
Trước khi lựa chọn phương pháp kiểm tra, bác sỹ phải khai thác bệnh sử, đánh giá đặc điểm triệu chứng, tiền sử bệnh và những yếu tố nguy cơ liên quan. Kết quả khám lâm sàng là căn cứ quan trọng để xác định hướng chẩn đoán, tránh thực hiện xét nghiệm hoặc chụp chiếu không thực sự cần thiết.
Với các biểu hiện tiêu hóa như đau thượng vị, đầy bụng, ợ hơi, ợ chua hoặc trào ngược, việc đánh giá cần làm rõ thời gian xuất hiện, tần suất, mức độ khó chịu và mối liên quan với bữa ăn. Tùy tình trạng cụ thể, người bệnh có thể được hướng dẫn điều chỉnh chế độ ăn uống, sử dụng thuốc hoặc thực hiện những xét nghiệm phù hợp trước khi cân nhắc nội soi.
Dù vậy, đau bụng hoặc đầy hơi không đồng nghĩa với việc phải nội soi ngay. Quyết định phụ thuộc vào mức độ triệu chứng, tuổi, tiền sử bệnh và nguy cơ tổn thương đường tiêu hóa.
Ở chiều ngược lại, người bệnh cũng không nên trì hoãn thăm khám nếu triệu chứng kéo dài, tái diễn nhiều lần hoặc xuất hiện những dấu hiệu cảnh báo như sụt cân không rõ nguyên nhân, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, thiếu máu hay khó nuốt.
Đối với đau đầu, đau cổ vai gáy hoặc đau lưng, BSCKI Lưu Hồng Sơn, chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh nhận định, việc chỉ định CT hay MRI cần dựa trên đặc điểm cơn đau, thời gian xuất hiện, tiền sử bệnh và kết quả khám thần kinh.
MRI không mặc nhiên tốt hơn CT trong mọi trường hợp. Mỗi kỹ thuật có thế mạnh và giới hạn riêng, vì vậy việc lựa chọn phải phù hợp với bệnh lý nghi ngờ, mức độ khẩn cấp và tình trạng thực tế của người bệnh.
Bác sỹ lưu ý, chụp chiếu không đúng chỉ định có thể phát sinh những kết quả bất thường tình cờ, khiến người bệnh lo lắng hoặc phải tiếp tục thực hiện các kiểm tra chưa chắc mang lại lợi ích.
Bác sỹ cho biết, phát hiện hình ảnh bất thường mới chỉ là bước đầu trong quá trình chẩn đoán. Bác sỹ cần đối chiếu với triệu chứng, tiền sử bệnh và các xét nghiệm liên quan để đánh giá mức độ nguy cơ.
Tùy đặc điểm tổn thương, người bệnh có thể được hướng dẫn theo dõi định kỳ, làm thêm xét nghiệm hoặc thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu nhằm xác định bản chất. Không nên mặc nhiên coi mọi nốt hoặc khối được phát hiện là dấu hiệu bệnh lý ác tính.
Ngoài chi phí, CT còn sử dụng tia X, làm phát sinh phơi nhiễm bức xạ. MRI không sử dụng bức xạ ion hóa nhưng vẫn có những giới hạn và điều kiện an toàn riêng. Cả hai kỹ thuật đều có thể ghi nhận những bất thường tình cờ, kéo theo nhu cầu theo dõi hoặc kiểm tra thêm mà chưa chắc cải thiện sức khỏe người bệnh.