Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 8/8: Tỷ lệ béo phì tại Việt Nam tăng nhanh
D.Ngân - 08/08/2026 09:21
Dù vẫn thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ béo phì thấp, Việt Nam đang chứng kiến tốc độ gia tăng béo phì lên tới 38%, cao nhất Đông Nam Á.

Béo phì tại Việt Nam tăng nhanh

Dù vẫn thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ béo phì thấp, Việt Nam đang chứng kiến tốc độ gia tăng béo phì lên tới 38%, trong khi tình trạng này ngày càng trẻ hóa và có thể kéo theo sự gia tăng hàng loạt bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa, thậm chí ung thư.

Ảnh minh họa

Đó là thông tin do GS-TS.Trần Bình Giang, Chủ tịch Hội Ngoại khoa và Phẫu thuật nội soi Việt Nam cảnh báo tại Hội thảo khoa học về phẫu thuật béo phì trong điều trị đa mô thức và lễ thành lập Chi hội Phẫu thuật Chuyển hóa và Béo phì Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.

Cảnh báo này càng đáng chú ý khi nhìn vào những số liệu mới nhất về tốc độ gia tăng thừa cân, béo phì tại Việt Nam. World Obesity Atlas 2025 ghi nhận Việt Nam có tốc độ gia tăng béo phì lên tới 38%, cao nhất khu vực Đông Nam Á, trong khi mức độ sẵn sàng điều trị căn bệnh này mới xếp thứ 108 trong tổng số 183 quốc gia, phản ánh khoảng trống đáng kể trong hệ thống chăm sóc và quản lý béo phì.

Không chỉ gia tăng ở người trưởng thành, tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em cũng đang thay đổi nhanh chóng. Chỉ sau 10 năm, tỷ lệ học sinh thừa cân, béo phì đã tăng hơn gấp đôi, từ 8,5% lên 19%; tại các đô thị lớn, con số này đạt khoảng 26%, tiệm cận tỷ lệ được ghi nhận tại nhiều quốc gia phát triển.

Nếu xu hướng này tiếp diễn, dự báo đến năm 2030, khoảng một nửa người trưởng thành Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng thừa cân, trong đó tỷ lệ béo phì ước đạt 17% ở nam giới và 22% ở nữ giới. Điều này đồng nghĩa trong tương lai không xa, Việt Nam có thể phải đối diện với một gánh nặng sức khỏe lớn hơn rất nhiều so với những gì tỷ lệ béo phì hiện tại phản ánh.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhìn nhận béo phì là một bệnh mạn tính phức tạp, có thể tiến triển âm thầm nhưng kéo theo hàng loạt hệ lụy đối với sức khỏe cũng như kinh tế, bởi phía sau tình trạng tích tụ mỡ quá mức không đơn thuần là câu chuyện cân nặng hay ngoại hình mà còn là nguy cơ của nhiều bệnh lý nghiêm trọng.

Một khảo sát thực hiện trên 1.000 người trưởng thành tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ trong năm 2025 cho thấy nhận thức của cộng đồng về những hệ lụy của béo phì đã tương đối rõ ràng, khi 83% người được hỏi biết rằng béo phì có thể dẫn đến rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch và đái tháo đường, trong khi 72% nhận thức được căn bệnh này còn làm gia tăng nguy cơ ung thư và vô sinh.

Tuy nhiên, khoảng cách từ nhận thức đến thay đổi hành vi vẫn là một thách thức lớn, bởi những yếu tố thúc đẩy thừa cân, béo phì lại ngày càng gắn chặt với nhịp sống hiện đại, từ ít vận động, ngồi quá lâu đến chế độ ăn nhiều năng lượng và sử dụng thường xuyên các loại thực phẩm chế biến sẵn.

Kết quả khảo sát cho thấy gần 2/3 số người tham gia dành hơn 6 giờ mỗi ngày để ngồi, trong khi hơn 1/3 thường xuyên sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, nhóm thực phẩm thường chứa nhiều đường, muối, chất béo bão hòa nhưng lại cung cấp lượng lớn năng lượng “rỗng”.

Đáng chú ý, trong bối cảnh nhu cầu giảm cân ngày càng tăng, nhiều chế độ ăn kiêng được quảng bá rộng rãi với lời hứa giúp giảm cân nhanh chóng, trong đó có những phương pháp loại bỏ hoàn toàn tinh bột hoặc cắt bỏ một nhóm thực phẩm khỏi khẩu phần hằng ngày.

“Nhiều chế độ ăn cắt hoàn toàn tinh bột hoặc loại bỏ một nhóm thực phẩm được quảng bá rộng rãi nhưng phần lớn thiếu cơ sở khoa học và khó duy trì hiệu quả lâu dài”, GS.TS Trần Bình Giang cảnh báo.

GS-TS.Trần Bình Giang phân tích, nguyên tắc cốt lõi để giảm cân vẫn là tạo ra mức thâm hụt năng lượng, nghĩa là lượng calo cơ thể tiêu hao phải lớn hơn lượng calo được nạp vào. Tập luyện đóng vai trò quan trọng trong cải thiện sức khỏe tim mạch, hệ cơ xương khớp và thể lực, nhưng để kiểm soát cân nặng, yếu tố quyết định vẫn nằm ở chế độ ăn và tổng năng lượng được đưa vào cơ thể.

Điều này không đồng nghĩa người muốn giảm cân phải nhịn ăn hoặc loại bỏ hoàn toàn tinh bột, chất béo hay đạm, bởi một chế độ dinh dưỡng hợp lý vẫn cần bảo đảm đầy đủ ba nhóm chất chính, đồng thời tăng cường rau xanh, trái cây và những thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất. Yếu tố quan trọng là kiểm soát và giảm tổng năng lượng nạp vào thay vì cực đoan loại bỏ hoàn toàn bất kỳ nhóm thực phẩm nào.

Một vấn đề khác đang khiến các chuyên gia lo ngại là béo phì ngày càng xuất hiện ở những người trẻ tuổi hơn. TS-BS.Bùi Thanh Phúc, Phó trưởng khoa Phẫu thuật Cấp cứu tiêu hóa, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết, nếu trước đây người béo phì chủ yếu thuộc nhóm trung niên có điều kiện kinh tế khá giả thì hiện nay bệnh đã trẻ hóa rõ rệt, thậm chí nhiều bệnh nhân mới 17-18 tuổi đã phải điều trị béo phì ở mức độ nặng.

Sự thay đổi cũng không chỉ diễn ra ở một nhóm nghề nghiệp hay điều kiện kinh tế nhất định. Không riêng nhân viên văn phòng, những người lao động phổ thông hay tài xế công nghệ cũng có nguy cơ cao do ít vận động, thường xuyên sử dụng thức ăn nhanh, đồ uống nhiều năng lượng và chịu áp lực công việc kéo dài.

Thực tế này cho thấy béo phì đang dần vượt ra khỏi những quan niệm cũ vốn gắn căn bệnh với tuổi trung niên, đời sống dư dả hay một số nhóm nghề nghiệp ít vận động, để trở thành vấn đề sức khỏe có thể xuất hiện ở nhiều độ tuổi và tầng lớp khác nhau.

Các chuyên gia nhấn mạnh, béo phì không còn được nhìn nhận đơn thuần là vấn đề ngoại hình mà là một bệnh lý mạn tính cần được điều trị bài bản, toàn diện và lâu dài, bởi giảm được một số kilogram trong thời gian ngắn không đồng nghĩa nguyên nhân gây bệnh đã được kiểm soát hay nguy cơ tái tăng cân đã được loại bỏ.

GS-TS.Trần Bình Giang ví quá trình điều trị béo phì như “một cuộc chiến”, đòi hỏi người bệnh phải kiên trì và duy trì những thay đổi bền vững về lối sống, dinh dưỡng cũng như vận động, trong khi những giải pháp ngắn hạn hoặc phương pháp giảm cân cấp tốc thường khó mang lại hiệu quả lâu dài.

Đối với những trường hợp béo phì nặng, khi các biện pháp điều trị phù hợp khác không mang lại hiệu quả như mong muốn, phẫu thuật có thể trở thành một lựa chọn điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, phẫu thuật không phải điểm kết thúc của hành trình điều trị, bởi để giảm nguy cơ biến chứng và duy trì kết quả lâu dài, người bệnh vẫn cần được quản lý bằng mô hình đa mô thức với sự phối hợp của nhiều chuyên ngành như nội khoa, nội tiết, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và ngoại khoa.

Chóng mặt 3 ngày tưởng rối loạn tiền đình, người phụ nữ phát hiện nhồi máu não cấp

Không yếu liệt, không rối loạn cảm giác, không có những dấu hiệu đột quỵ điển hình, người phụ nữ 66 tuổi chỉ liên tục chóng mặt, mất thăng bằng và đau vùng sau đầu. Kết quả chụp cộng hưởng từ não sau 3 ngày xuất hiện triệu chứng bất ngờ phát hiện ổ nhồi máu não cấp, cho thấy đột quỵ đôi khi có thể ẩn sau những biểu hiện rất dễ nhầm với rối loạn tiền đình.

Ba ngày liên tục bị chóng mặt, đi lại loạng choạng kèm đau vùng sau đầu, bà P.T.Q., 66 tuổi, Hà Nội đã hai lần đến cơ sở y tế thăm khám, các xét nghiệm ghi nhận tình trạng rối loạn lipid máu và người bệnh được điều trị theo hướng tăng huyết áp kết hợp rối loạn tiền đình bằng thuốc hạ huyết áp, hạ mỡ máu, thuốc chống chóng mặt và tăng tuần hoàn não.

Tuy nhiên, sau nhiều ngày sử dụng thuốc, những cơn chóng mặt không giảm, cảm giác mất thăng bằng ngày càng rõ khiến khả năng đi lại và sinh hoạt hằng ngày bị ảnh hưởng đáng kể. Lo ngại phía sau những triệu chứng kéo dài có thể còn một nguyên nhân khác chưa được phát hiện, người bệnh quyết định đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC để kiểm tra lại.

Điều đáng chú ý là tại thời điểm thăm khám, bà Q. gần như không có những biểu hiện thần kinh thường khiến người ta nghĩ ngay đến đột quỵ.

Ths.Bùi Thị Thanh, chuyên khoa Thần kinh, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC cho biết, người bệnh hoàn toàn tỉnh táo, không yếu liệt tay chân, không có dấu hiệu tổn thương các dây thần kinh sọ, không rối loạn cảm giác và chưa ghi nhận hội chứng tiểu não, nhóm triệu chứng thường gây mất phối hợp vận động và mất thăng bằng.

Thậm chí, thang điểm NIHSS (National Institutes of Health Stroke Scale), thang điểm chuẩn quốc tế được sử dụng để đánh giá mức độ nặng của đột quỵ, ở người bệnh chỉ là 1 điểm, phản ánh các biểu hiện thần kinh trên lâm sàng rất nhẹ.

Chính những biểu hiện kín đáo này khiến trường hợp của bà Q. có thể dễ dàng tiếp tục được nhìn nhận như một bệnh lý tiền đình thông thường nếu quá trình đánh giá chỉ dừng lại ở triệu chứng bên ngoài.

“Với những dữ kiện này, nếu chỉ dựa vào biểu hiện lâm sàng, rất dễ hướng chẩn đoán đến một bệnh lý lành tính. Tuy nhiên, từ các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, tiền sử tăng huyết áp, rối loạn lipid máu cùng diễn biến chóng mặt kéo dài nhưng không đáp ứng điều trị, các bác sỹ vẫn không loại trừ khả năng đột quỵ”, Ths.Bùi Thị Thanh cho biết.

Từ nghi ngờ này, người bệnh được chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) não kết hợp khảo sát hệ thống mạch máu nhằm tìm kiếm nguyên nhân thực sự phía sau những cơn chóng mặt dai dẳng.

Kết quả MRI đã làm thay đổi hoàn toàn hướng chẩn đoán khi ghi nhận một ổ nhồi máu não cấp tại thùy chẩm phải, đồng thời xuất hiện dấu hiệu nghi hẹp hoặc tắc đoạn xa động mạch não sau phải.

Như vậy, những cơn chóng mặt và mất thăng bằng kéo dài suốt ba ngày của người phụ nữ không đơn thuần bắt nguồn từ rối loạn tiền đình như nhận định ban đầu, mà thực chất là biểu hiện của một cơn đột quỵ thiếu máu não.

Ths.Bùi Thị Thanh phân tích, đây là nhóm đột quỵ có biểu hiện không điển hình, trong đó người bệnh có thể không xuất hiện những dấu hiệu thường được cộng đồng nhận biết như yếu liệt tay chân, méo miệng hay rối loạn ngôn ngữ. Khi triệu chứng ban đầu chủ yếu là chóng mặt và mất thăng bằng, bệnh rất dễ bị nhầm với rối loạn tiền đình hoặc những bệnh lý lành tính khác, từ đó dẫn tới nguy cơ chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị.

Sau thời gian điều trị nội trú bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu kép, statin và kiểm soát huyết áp, tình trạng chóng mặt, mất thăng bằng của bà Q. đã cải thiện rõ rệt.

Tuy nhiên, do vẫn còn tình trạng hẹp đáng kể hệ động mạch cảnh, người bệnh tiếp tục được tư vấn đến chuyên khoa can thiệp mạch máu để đánh giá chỉ định tái thông và xây dựng kế hoạch điều trị lâu dài, cá thể hóa dựa trên mức độ tổn thương cũng như nguy cơ của từng trường hợp.

Ca bệnh một lần nữa cho thấy đột quỵ không phải lúc nào cũng xuất hiện bằng những biểu hiện dữ dội hoặc dễ nhận biết. Một người vẫn tỉnh táo, không méo miệng, không yếu liệt, không rối loạn cảm giác và chỉ có NIHSS 1 điểm vẫn có thể đang trải qua một cơn nhồi máu não cấp.

Các chuyên gia khuyến cáo người dân cần đến cơ sở y tế thăm khám khi xuất hiện chóng mặt kéo dài, mất thăng bằng hoặc những dấu hiệu thần kinh bất thường như nói khó, nhìn mờ, tê yếu tay chân, đặc biệt khi triệu chứng xuất hiện dai dẳng, khác với những lần trước hoặc không cải thiện sau điều trị.

Những người trên 50 tuổi hoặc có các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và bệnh tim mạch càng cần thận trọng, bởi phía sau một cơn chóng mặt tưởng như quen thuộc có thể là tổn thương mạch máu não đang diễn ra.

Người cao tuổi đột ngột chóng mặt, ngã quỵ, coi chừng xuất huyết tiêu hóa

Một cơn chóng mặt xuất hiện bất ngờ, vài phút lơ mơ, lú lẫn hay một cú ngã không rõ nguyên nhân ở người cao tuổi thường khiến người thân nghĩ ngay đến đột quỵ, bệnh tim mạch hoặc đơn giản cho rằng đó là hệ quả của tuổi già, nhưng khi những nguyên nhân thần kinh cấp tính đã được loại trừ, vẫn còn một bệnh lý nguy hiểm khác rất dễ bị bỏ sót xuất huyết tiêu hóa.

BS.CKI Lê Phượng Hoàng, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Lão khoa, Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội cho biết, xuất huyết tiêu hóa là một cấp cứu nội khoa thường gặp ở người cao tuổi, nhưng chẩn đoán sớm không phải lúc nào cũng dễ dàng bởi biểu hiện của bệnh ở nhóm tuổi này thường không điển hình, khiến người bệnh có thể được phát hiện muộn và nguy cơ biến chứng cũng vì thế tăng lên.

Nếu ở người trẻ, xuất huyết tiêu hóa có thể biểu hiện khá rõ bằng đau bụng dữ dội, nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen, thì ở người cao tuổi, những dấu hiệu đầu tiên đôi khi lại rất kín đáo, thậm chí tưởng như không liên quan đến đường tiêu hóa.

Người bệnh có thể chỉ cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, choáng váng, mệt nhiều, da xanh tái, vã mồ hôi; một số trường hợp xuất hiện lú lẫn, giảm tỉnh táo, buồn ngủ bất thường, ngất hoặc ngã đột ngột, trong khi những người khác lại có biểu hiện tim đập nhanh, hồi hộp, khó thở. Người bệnh có thể đi ngoài phân đen nhưng không để ý hoặc ngại chia sẻ với người thân, khiến một dấu hiệu quan trọng của xuất huyết tiêu hóa bị bỏ qua.

Đáng lưu ý hơn, nhiều trường hợp hoàn toàn không xuất hiện đau bụng, vì vậy những biểu hiện như chóng mặt, lơ mơ, mệt lả hay ngã đột ngột rất dễ bị nhầm với đột quỵ, bệnh lý tim mạch hoặc tình trạng suy nhược thường gặp ở tuổi già, trong khi nguyên nhân thực sự có thể là cơ thể đang mất máu do xuất huyết ở đường tiêu hóa.

Nguy cơ xuất huyết tiêu hóa ở người cao tuổi còn cao hơn bởi đây là nhóm thường cùng lúc mắc nhiều bệnh mạn tính như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rung nhĩ, đái tháo đường hay thoái hóa khớp, đồng nghĩa với nhu cầu phải sử dụng nhiều loại thuốc trong thời gian dài.

Trong số đó, một số nhóm thuốc có thể làm gia tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa, bao gồm thuốc chống kết tập tiểu cầu như Aspirin, Clopidogrel, thuốc chống đông và các thuốc giảm đau kháng viêm không steroid (NSAIDs). Những loại thuốc này có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày hoặc làm giảm khả năng cầm máu của cơ thể, vì vậy nguy cơ càng cần được lưu ý ở những người phải điều trị kéo dài.

Không chỉ liên quan đến thuốc, chính quá trình lão hóa cũng khiến hệ mạch máu của đường tiêu hóa trở nên mong manh hơn, dễ xuất hiện những tổn thương như loạn sản mạch máu hoặc túi thừa đại tràng, từ đó khiến tình trạng chảy máu có thể diễn ra âm thầm trong thời gian dài mà người bệnh và gia đình không nhận biết.

BS.CKI Lê Phượng Hoàng nhấn mạnh, xuất huyết tiêu hóa là tình trạng cấp cứu cần được phát hiện và xử trí kịp thời, bởi khi lượng máu mất ngày càng nhiều, người cao tuổi vốn có khả năng bù trừ kém hơn có thể nhanh chóng rơi vào tình trạng nguy hiểm.

Khi nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa, bác sỹ sẽ đánh giá mức độ mất máu, tiến hành hồi sức bằng truyền dịch hoặc truyền máu nếu cần thiết, sử dụng thuốc giảm tiết acid dạ dày, đồng thời nội soi tiêu hóa sớm để xác định vị trí đang chảy máu và thực hiện các biện pháp cầm máu phù hợp.

Đối với người cao tuổi, đặc biệt những trường hợp đồng thời mắc bệnh tim mạch hoặc hô hấp, quá trình điều trị cần được cá thể hóa, bởi mục tiêu không chỉ là kiểm soát điểm chảy máu mà còn phải bảo đảm khả năng cung cấp đủ oxy cho những cơ quan đặc biệt quan trọng như tim và não.

Sau khi tình trạng xuất huyết được kiểm soát, quá trình chăm sóc và theo dõi vẫn cần tiếp tục chặt chẽ nhằm phục hồi sức khỏe và giảm nguy cơ tái phát. Trong những ngày đầu, người bệnh nên ưu tiên thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, sau đó tăng dần các thực phẩm giàu protein và sắt như thịt nạc, cá, trứng, đồng thời bổ sung rau xanh và trái cây chín mềm; đồ ăn cay nóng, nhiều dầu mỡ, rượu bia, cà phê và các chất kích thích cần được hạn chế.

Sử dụng thuốc sau điều trị cũng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Người bệnh cần tuân thủ đúng đơn, không tự ý ngừng thuốc điều trị dạ dày chỉ vì các triệu chứng đã cải thiện. Với những người đang sử dụng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu, thời điểm và cách thức sử dụng trở lại cần được bác sỹ chuyên khoa cân nhắc kỹ lưỡng nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa nguy cơ tái chảy máu và nguy cơ hình thành huyết khối.

BS.CKI Lê Phượng Hoàng đặc biệt lưu ý gia đình không nên chần chừ nếu người cao tuổi đột ngột chóng mặt hoặc ngất, da xanh, niêm mạc nhợt, vã mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, tụt huyết áp, khó thở, nôn ra máu, đi ngoài phân đen hoặc phân lẫn máu, mệt nhiều, lơ mơ hay giảm ý thức, bởi đây có thể là những dấu hiệu cho thấy tình trạng mất máu đã ảnh hưởng đến tuần hoàn và các cơ quan quan trọng.

Đưa người bệnh đến cơ sở y tế sớm có ý nghĩa quyết định trong hạn chế biến chứng và nâng cao khả năng hồi phục, bởi ở người cao tuổi, một cơn chóng mặt không phải lúc nào cũng đơn thuần là biểu hiện của tuổi già, cũng như một cú ngã bất ngờ không nhất thiết chỉ bắt nguồn từ tình trạng yếu chân hay mất thăng bằng, mà phía sau đó có thể là một quá trình mất máu nghiêm trọng đang diễn ra bên trong cơ thể.

Tin liên quan
Tin khác