Y tế - Sức khỏe
Tin y tế ngày 27/9: Suy dinh dưỡng và vòng xoáy bệnh tật đe dọa trẻ nhỏ
D.Ngân - 27/09/2026 11:23
Không chỉ khiến trẻ chậm lớn, suy dinh dưỡng cấp tính còn làm suy giảm khả năng chống đỡ bệnh tật, khiến những bệnh nhiễm trùng thường gặp như tiêu chảy, viêm phổi có thể trở nên nghiêm trọng hơn.

Suy dinh dưỡng và vòng xoáy bệnh tật đe dọa trẻ nhỏ

Bộ Y tế vừa ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em từ 0-59 tháng tuổi”, thay thế hướng dẫn được ban hành năm 2016.

Không chỉ khiến trẻ chậm lớn, suy dinh dưỡng cấp tính còn làm suy giảm khả năng chống đỡ bệnh tật, khiến những bệnh nhiễm trùng thường gặp như tiêu chảy, viêm phổi có thể trở nên nghiêm trọng hơn.

Sau 10 năm, hướng dẫn mới không chỉ cập nhật các bằng chứng khoa học, chuẩn hóa việc phát hiện, chẩn đoán, phân loại và điều trị mà còn đặt trọng tâm vào một vấn đề quan trọng hơn: làm sao nhận diện những đứa trẻ có nguy cơ ngay từ cộng đồng, trước khi tình trạng suy dinh dưỡng trở nên nghiêm trọng.

Đây là vấn đề đáng lưu ý bởi suy dinh dưỡng cấp tính không đơn thuần là chuyện một đứa trẻ nhẹ cân hay chậm tăng trưởng. Những thiếu hụt dinh dưỡng trong những năm đầu đời có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sống còn cũng như quá trình phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ.

Trên thế giới hiện có hơn 45 triệu trẻ dưới 5 tuổi mắc suy dinh dưỡng cấp tính, trong đó khoảng 13,6 triệu trẻ ở mức độ nặng. Tình trạng này liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới gần 1/5 số ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu.

Tại Việt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính vẫn ở mức khoảng 4,5-5,6% trên phạm vi cả nước. Đáng chú ý, tình trạng này tập trung nhiều tại Tây Nguyên, trung du và miền núi phía Bắc; một số địa phương ghi nhận tỷ lệ trên 10%.

Trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ sống tại những khu vực chịu ảnh hưởng của thiên tai và trẻ mắc bệnh mạn tính là những nhóm có nguy cơ cao.

Điều đáng lo không chỉ nằm ở tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng tại một thời điểm. Một đứa trẻ suy dinh dưỡng có khả năng chống đỡ bệnh tật kém hơn và dễ bị tổn thương trước các bệnh nhiễm trùng. Những bệnh khá phổ biến ở trẻ nhỏ như tiêu chảy, viêm phổi có thể diễn biến nặng hơn trên nền suy dinh dưỡng.

Bên cạnh đó, nhiễm trùng lại khiến trẻ ăn uống kém, giảm hấp thu và tăng nhu cầu năng lượng, từ đó làm tình trạng dinh dưỡng tiếp tục xấu đi. Suy dinh dưỡng và bệnh tật vì vậy có thể cuốn trẻ vào một vòng xoắn bất lợi, trong đó tình trạng này làm trầm trọng thêm tình trạng kia.

Tuy nhiên, suy dinh dưỡng cấp tính không có nghĩa trẻ mất đi cơ hội phục hồi. Nếu được nhận diện sớm, đánh giá đúng mức độ và can thiệp phù hợp, trẻ có thể phục hồi và tiếp tục quá trình phát triển.

Hướng dẫn mới của Bộ Y tế được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung còn phù hợp, đồng thời cập nhật bằng chứng khoa học từ hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2023.

Theo đó, suy dinh dưỡng ở trẻ từ 0-59 tháng tuổi được xác định dựa trên các chỉ số cân nặng theo chiều cao hoặc cân nặng theo chiều dài, chu vi vòng cánh tay hoặc sự hiện diện của phù dinh dưỡng. Bệnh được phân thành hai mức độ gồm suy dinh dưỡng cấp tính vừa và suy dinh dưỡng cấp tính nặng.

Việc thống nhất các tiêu chí chẩn đoán có ý nghĩa quan trọng bởi mỗi mức độ bệnh cần cách can thiệp và theo dõi khác nhau. Đánh giá đúng ngay từ đầu giúp nhân viên y tế lựa chọn phương án phù hợp, đồng thời nhận diện những trẻ có nguy cơ diễn biến nặng để can thiệp kịp thời.

So với trước, hướng dẫn mới bổ sung và tích hợp những tiến bộ khoa học trong quản lý suy dinh dưỡng cấp tính, gồm các nội dung liên quan tới hệ vi sinh đường ruột và miễn dịch, quản lý và cá thể hóa điều trị, kiểm soát nguy cơ hội chứng nuôi ăn lại.

Điểm đáng chú ý là việc điều trị không chỉ dựa trên một phác đồ chung cho mọi trẻ. Tình trạng dinh dưỡng, mức độ bệnh và các yếu tố nguy cơ đi kèm cần được đánh giá để có phương án phù hợp với từng trường hợp.

Nhưng điều trị một đứa trẻ đã suy dinh dưỡng mới chỉ là phần cuối của câu chuyện. Muốn giảm những hậu quả lâu dài, việc phòng ngừa phải bắt đầu sớm hơn rất nhiều, thậm chí từ trước khi đứa trẻ chào đời.

Bộ Y tế nhấn mạnh phòng, chống suy dinh dưỡng cần được thực hiện liên tục, gắn với chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Điều đó bắt đầu từ bảo đảm dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, theo dõi tăng trưởng và bổ sung vi chất.

Song song với dinh dưỡng là tiêm chủng đầy đủ, phát hiện và điều trị sớm bệnh nhiễm khuẩn, bảo đảm vệ sinh và nước sạch. Những yếu tố tưởng như riêng biệt thực chất tạo thành một chuỗi bảo vệ trẻ trong những năm tháng đầu đời.

Trong chuỗi bảo vệ ấy, y tế cơ sở được đặt ở vị trí quan trọng. Thay vì chờ trẻ suy dinh dưỡng nặng mới đến bệnh viện, việc sàng lọc định kỳ tại cộng đồng có thể giúp phát hiện những trẻ bắt đầu có nguy cơ, tạo cơ hội can thiệp sớm và hạn chế những trường hợp diễn biến nặng phải chuyển lên tuyến trên.

Hướng dẫn mới cũng yêu cầu tăng cường phối hợp đa chuyên ngành. Nhi khoa, dinh dưỡng lâm sàng, điều dưỡng và y tế dự phòng cần phối hợp từ đánh giá tình trạng, xây dựng kế hoạch điều trị, theo dõi đáp ứng đến tư vấn và quản lý trẻ sau xuất viện.

Suy dinh dưỡng ở một đứa trẻ có thể bắt đầu bằng những biểu hiện không quá rõ ràng, nhưng hậu quả nếu bị bỏ qua có thể kéo dài hơn nhiều so với một giai đoạn thiếu cân. Bởi vậy, giá trị của việc phát hiện sớm không chỉ nằm ở giúp trẻ tăng thêm những kilogram cân nặng, mà quan trọng hơn là bảo vệ cơ hội phát triển thể chất, trí tuệ và sức khỏe lâu dài của trẻ.

Gánh nặng thị lực từ những đôi mắt trẻ

Khoảng 3-5 triệu trẻ từ 5-15 tuổi đang mắc tật khúc xạ, trong lúc đục thể thủy tinh vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù tại Việt Nam. Gánh nặng suy giảm thị lực đặt ra yêu cầu chăm sóc đôi mắt từ sớm, thay vì chờ đến lúc khả năng nhìn bị ảnh hưởng mới can thiệp.

Tại Hội nghị khoa học Phẫu thuật thể thủy tinh và khúc xạ lần thứ nhất và Câu lạc bộ Quản trị nhãn khoa lần thứ hai do Hội Nhãn khoa Việt Nam phối hợp Bệnh viện Mắt Trung ương tổ chức, tình trạng gia tăng tật khúc xạ, đặc biệt ở trẻ em, là một trong những vấn đề được các chuyên gia lưu ý.

Khảo sát của Bệnh viện Mắt Trung ương cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở trẻ em tại Hà Nội lên tới 51%, tại TP.HCM là 75,6%. Trên phạm vi cả nước, ước tính khoảng 3-5 triệu trẻ từ 5-15 tuổi mắc các tật khúc xạ.

Đáng chú ý, tỷ lệ học sinh trung học mắc cận thị tại khu vực thành thị khoảng 26,6%, trong khi ở khu vực nông thôn dao động 14,2-16,3%.

Những con số cho thấy vấn đề thị lực ở trẻ không còn giới hạn trong phòng khám chuyên khoa. Cận thị xuất hiện sớm và tiến triển trong một khoảng thời gian dài có thể ảnh hưởng tới sức khỏe thị giác của trẻ về sau, đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ chữa khi đã mắc sang phát hiện, theo dõi và kiểm soát từ sớm.

PGS-TS.Phạm Ngọc Đông, Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương cho biết, tình trạng cận thị và các tật khúc xạ ở trẻ em đang diễn biến đáng lo ngại.

Theo cảnh báo được dẫn tại hội nghị, nếu không có các biện pháp can thiệp và phòng ngừa hiệu quả, tỷ lệ cận thị ở trẻ em Việt Nam có thể tiếp tục tăng mạnh vào năm 2050.

Điều đó cũng đồng nghĩa việc bảo vệ thị lực trẻ em không thể chỉ giao cho ngành nhãn khoa. Gia đình là những người đầu tiên có thể nhận ra một đứa trẻ phải nheo mắt khi nhìn xa, ngồi sát màn hình hay gặp khó khăn trong học tập do thị lực. Nhà trường lại là môi trường trẻ dành phần lớn thời gian mỗi ngày và có điều kiện hỗ trợ phát hiện sớm những bất thường.

Khám mắt định kỳ, phát hiện tật khúc xạ sớm và theo dõi sự tiến triển vì vậy cần trở thành một phần của chăm sóc sức khỏe trẻ em, thay vì chỉ được thực hiện sau khi trẻ than nhìn mờ hoặc kết quả học tập, sinh hoạt đã bị ảnh hưởng.

Nếu cận thị ở trẻ em đang tạo ra một thách thức ngày càng rõ nét thì ở đầu bên kia của tuổi đời, đục thể thủy tinh vẫn là gánh nặng lớn đối với công tác phòng, chống mù lòa.

Theo PGS-TS.Phạm Ngọc Đông, đục thể thủy tinh chiếm khoảng 74% nguyên nhân gây mù tại Việt Nam. Những nguyên nhân khác gồm bệnh võng mạc, sẹo giác mạc, glôcôm, tật khúc xạ và biến chứng sau phẫu thuật đục thể thủy tinh.

Những năm qua, số lượng phẫu thuật đục thể thủy tinh tăng mạnh cùng sự phát triển của hệ thống chăm sóc mắt, giúp hàng trăm nghìn người bệnh tìm lại thị lực. Tuy nhiên, các bệnh lý gây suy giảm thị lực và mù lòa vẫn tiếp tục là thách thức.

Bài toán hiện nay vì thế không chỉ là có thêm bao nhiêu người được phẫu thuật mà còn nằm ở khả năng tiếp cận dịch vụ, chất lượng điều trị, kiểm soát biến chứng và theo dõi người bệnh sau can thiệp.

Cùng với sự cải thiện về đời sống, kỳ vọng của người bệnh cũng thay đổi. Nhu cầu không còn dừng ở việc chữa khỏi bệnh hay nhìn thấy trở lại mà hướng tới chất lượng thị giác tốt hơn, giảm sự phụ thuộc vào kính và duy trì thuận lợi trong sinh hoạt, công việc.

Sự thay đổi đó thúc đẩy nhiều kỹ thuật mới trong phẫu thuật thể thủy tinh và khúc xạ phát triển. TS.Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế nhận định nhãn khoa là một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh về kỹ thuật, công nghệ và phương pháp điều trị.

Nhiều kỹ thuật mới cho phép tăng độ chính xác, giảm mức độ xâm lấn và rút ngắn thời gian thực hiện. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của công nghệ cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng chuyên môn và an toàn người bệnh.

Theo TS.Nguyễn Trọng Khoa, các cơ sở nhãn khoa cần tiếp tục cập nhật tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật, đồng thời hoàn thiện quy trình tổ chức khám, chữa bệnh để kỹ thuật mới được triển khai an toàn, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.

Các quy trình kỹ thuật, định mức thời gian và phương thức tổ chức thực hiện cũng cần tiếp tục được rà soát trên nguyên tắc bảo đảm an toàn người bệnh, chất lượng chuyên môn và hiệu quả sử dụng nguồn lực y tế. Công nghệ có thể giúp một ca phẫu thuật chính xác hơn, ít xâm lấn hơn và mang lại chất lượng thị giác tốt hơn, nhưng công nghệ chỉ giải quyết được một phần của bài toán.

Một dấu hiệu bất thường vùng bẹn có thể dẫn tới biến chứng nguy hiểm

Khối phồng vùng bẹn xuất hiện lúc đứng, ho hoặc rặn nhưng lại biến mất khi nằm khiến nhiều người dễ bỏ qua. Tuy nhiên, phía sau dấu hiệu tưởng đơn giản này có thể là thoát vị bẹn, với nguy cơ kẹt, nghẹt và tổn thương phần tạng thoát vị nếu không được xử trí kịp thời.

Ông T.B.V. (54 tuổi, Hà Nội) nhận thấy vùng bẹn trái xuất hiện một khối phồng bất thường. Điều đặc biệt là khối này không hiện diện liên tục. Mỗi lúc đứng, ho hoặc rặn, khối phồng lại nổi rõ, nhưng chỉ cần nằm xuống thì tự xẹp.

Ban đầu, tình trạng này chưa khiến người bệnh quá lo lắng. Gần đây, cảm giác đau tức vùng bẹn trái ngày càng tăng, ông V. mới đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC kiểm tra.

Qua thăm khám, bác sỹ ghi nhận vùng bẹn trái có khối phồng kích thước khoảng 5x6 cm, thay đổi theo tư thế, có thể xuống tới bìu, ấn đau nhẹ và có dấu hiệu chặn lỗ bẹn sâu.

Kết quả siêu âm ổ bụng cho thấy vùng bẹn trái có cấu trúc thoát vị kích thước khoảng 41x17x37 mm. Dựa trên biểu hiện lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, người bệnh được chẩn đoán thoát vị bẹn trái gián tiếp.

Sau khi đánh giá tình trạng, các bác sỹ chỉ định phẫu thuật nội soi đặt lưới theo phương pháp TAPP (Transabdominal Preperitoneal), xử lý túi thoát vị và gia cố thành bụng. Năm ngày sau phẫu thuật, người bệnh ổn định và được xuất viện.

BSCKII. Trần Hữu Thọ, chuyên khoa Ngoại, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC cho biết, thoát vị bẹn xảy ra khi một phần tạng hoặc mô trong ổ bụng chui qua vị trí yếu của thành bụng vùng bẹn, từ đó hình thành khối phồng bất thường.

Bệnh có thể xuất hiện ở nhiều lứa tuổi, trong đó nam giới có nguy cơ cao hơn. Tuổi cao, thường xuyên mang vác nặng, ho kéo dài, táo bón hoặc thường xuyên phải rặn nhiều khi đại tiện là những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện hoặc khiến tình trạng thoát vị tiến triển.

Dựa vào đường đi của túi thoát vị, bệnh được chia thành thoát vị bẹn trực tiếp và gián tiếp. Thoát vị bẹn gián tiếp có liên quan tới tình trạng ống phúc tinh mạc không đóng kín hoàn toàn trong quá trình phát triển. Khi đường thông này còn tồn tại, áp lực trong ổ bụng có thể đẩy tạng hoặc mô qua lỗ bẹn sâu, đi vào ống bẹn, thậm chí xuống tới bìu ở nam giới.

Đáng chú ý, dù có nguồn gốc bẩm sinh, thoát vị bẹn gián tiếp không nhất thiết biểu hiện từ nhỏ. Bất thường có thể tồn tại trong thời gian dài và chỉ trở nên rõ rệt ở tuổi trưởng thành dưới tác động của những yếu tố làm tăng áp lực trong ổ bụng.

Đặc điểm này cũng lý giải dấu hiệu khá điển hình mà người bệnh có thể tự nhận biết. Khối phồng thường rõ hơn lúc đứng, ho, rặn hoặc vận động do áp lực trong ổ bụng tăng lên. Khi người bệnh nằm, khối có thể nhỏ lại hoặc biến mất do phần tạng thoát vị trở về ổ bụng.

Chính việc khối phồng có thể tự biến mất đôi khi khiến người bệnh chủ quan, cho rằng bất thường không đáng ngại. Theo bác sỹ Trần Hữu Thọ, phần lớn trường hợp thoát vị bẹn có thể được điều trị hiệu quả nếu được phát hiện và can thiệp phù hợp. Điều cần đề phòng là phần tạng thoát vị bị mắc kẹt và không thể trở lại ổ bụng.

Nguy hiểm hơn là tình trạng thoát vị nghẹt. Lúc này, tuần hoàn máu tới phần tạng bị thoát vị có thể bị cản trở, dẫn đến thiếu máu, hoại tử và những biến chứng nghiêm trọng nếu người bệnh không được xử trí kịp thời.

Bởi vậy, một khối phồng vùng bẹn dù lúc có, lúc không vẫn không nên bị bỏ qua. Người dân cần đi khám nếu phát hiện khối bất thường xuất hiện rõ hơn lúc đứng, ho, rặn hoặc vận động, đặc biệt nếu khối ngày càng lớn hoặc kèm cảm giác đau tức.

Việc thăm khám sớm giúp xác định chính xác nguyên nhân và có phương án xử trí phù hợp, thay vì chờ đến lúc khối phồng không còn tự xẹp hoặc xuất hiện biến chứng mới tìm đến cơ sở y tế.

Tin liên quan
Tin khác