Theo Dự thảo Thông tư quy định về tuyển sinh đại học đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến, danh mục phương thức xét tuyển dự kiến áp dụng từ năm 2027 còn 11 phương thức, giảm 8 phương thức so với năm 2026, thời điểm các cơ sở đào tạo được sử dụng 19 phương thức.
| Theo lộ trình đề xuất, từ năm 2028, mỗi ngành hoặc chương trình đào tạo chỉ còn một phương thức đăng ký xét tuyển, song các trường vẫn được quyền lựa chọn cách thức đánh giá phù hợp với yêu cầu đầu vào. |
Các phương thức dự kiến tiếp tục được áp dụng gồm xét kết quả thi tốt nghiệp THPT, kết quả học tập THPT, xét tuyển thẳng, sử dụng kết quả kỳ thi tuyển sinh chung hoặc kỳ thi riêng của cơ sở đào tạo, chứng chỉ quốc tế, phương thức kết hợp và một số hình thức khác.
Tuy nhiên, việc danh mục chung được rút gọn còn 11 phương thức không có nghĩa mỗi trường sẽ đồng thời sử dụng toàn bộ các phương thức này. Theo dự thảo, mỗi cơ sở đào tạo chỉ được sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh.
Ở cấp ngành, chương trình đào tạo, lộ trình siết số phương thức còn rõ hơn. Từ năm 2027, mỗi ngành hoặc chương trình đào tạo dự kiến được sử dụng tối đa 3 phương thức; từ năm 2028 chỉ còn 1 phương thức, không tính xét tuyển thẳng và cử tuyển.
Trao đổi về đề xuất này, GS-TS.Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT cho biết, ở cấp cơ sở đào tạo, Dự thảo vẫn cho phép sử dụng tối đa 5 phương thức. Mục tiêu là tạo lộ trình để từng ngành lựa chọn công cụ đánh giá phù hợp nhất, không phải yêu cầu tất cả trường đại học, ngành đào tạo trên cả nước cùng sử dụng một kết quả tuyển sinh duy nhất.
Theo ông Thảo, dữ liệu tuyển sinh giai đoạn 2022-2026 cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các phương thức. Chỉ 36,4% tổng số lượt chương trình đào tạo có căn cứ đối chiếu chính thức. Điểm học bạ trong cùng mã ngành thường cao hơn khá xa so với điểm thi tốt nghiệp THPT. Hơn 2.000 chương trình đào tạo có mức chênh điểm giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên.
Sự chênh lệch này đặt ra vấn đề về tính tương đương giữa các thang đo. Một ngành sử dụng nhiều con đường tuyển sinh nhưng chưa có cơ chế đối sánh đủ tin cậy có thể dẫn tới tình trạng những thí sinh có năng lực tương đương lại được đánh giá khác nhau.
Theo Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, mục tiêu của việc giảm phương thức xét tuyển là tăng sự bình đẳng trong cơ hội trúng tuyển, chứ không thu hẹp cơ hội vào đại học. Mỗi phương thức cần bảo đảm tất cả thí sinh đủ điều kiện đều có thể tham gia, tiêu chí phải được công bố rõ ràng và kết quả được quy đổi về một thang điểm chung.
Các cơ sở giáo dục đại học vẫn có quyền lựa chọn phương thức phù hợp với chuẩn đầu vào của từng chương trình. Kết quả kỳ thi riêng, học bạ hoặc chứng chỉ quốc tế vẫn có thể được sử dụng nếu được cấu trúc minh bạch trong phương thức tuyển sinh đã công bố.
Dữ liệu Bộ GD&ĐT theo dõi từ năm 2022 đến 2026 cũng cho thấy hơn 40% chương trình đào tạo, tương đương trên 2.000 ngành, có mức chênh điểm chuẩn giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên. Điểm xét tuyển theo kết quả học tập THPT có mức chênh đáng kể so với điểm thi tốt nghiệp THPT trong cùng một mã ngành.
GS-TS.Nguyễn Tiến Thảo cũng nhấn mạnh, kế hoạch tinh gọn phương thức tuyển sinh theo từng giai đoạn nhằm giúp mỗi ngành xác định được công cụ sàng lọc phù hợp nhất với mục tiêu đào tạo, không đồng nghĩa với việc áp đặt tất cả cơ sở giáo dục đại học phải sử dụng chung một hình thức thi hoặc một nguồn điểm.
Quyền quyết định phương thức tuyển sinh gắn với chuẩn đầu vào vẫn thuộc về các cơ sở giáo dục đại học, đi kèm yêu cầu tự chịu trách nhiệm và giải trình về toàn bộ quyết định tuyển sinh.
Theo GS-TS.Nguyễn Tiến Thảo, mục tiêu cuối cùng của việc điều chỉnh không phải giảm đường vào đại học, mà tạo một hệ thống tuyển sinh minh bạch hơn, có khả năng so sánh tốt hơn giữa các nguồn điểm và hạn chế chênh lệch cơ hội trúng tuyển do sự khác biệt giữa các phương thức.
Tại Tọa đàm góp ý sửa đổi một số quy định về tuyển sinh đại học do Vụ Giáo dục đại học tổ chức, một số cơ sở đào tạo đồng tình với chủ trương giảm số lượng phương thức tuyển sinh. Việc thu gọn được kỳ vọng hạn chế tình trạng một ngành sử dụng quá nhiều cách xét tuyển, đồng thời giúp kiểm soát tốt hơn chất lượng đầu vào và tăng tính công bằng giữa các nhóm thí sinh.
Tuy nhiên, đề xuất từ năm 2028 mỗi ngành chỉ còn một phương thức đăng ký xét tuyển cũng nhận được không ít ý kiến băn khoăn bởi nếu chỉ duy trì một phương thức cho mỗi ngành, rủi ro không chỉ thuộc về thí sinh mà các trường cũng có thể gặp khó trong tuyển sinh. Do vậy một số đề xuất Bộ GD&ĐT có thể tiếp tục siết số lượng phương thức, nhưng nên cho phép mỗi ngành duy trì hai phương thức để thí sinh có thêm lựa chọn.
Một số khác thì nói rằng, mỗi ngành hoặc chương trình đào tạo nên có ít nhất hai phương thức xét tuyển. Cách làm này có thể tăng tính linh hoạt, mở rộng cơ hội cho thí sinh và giúp các trường tiếp cận được nguồn tuyển phù hợp. Đại diện Đại học Bách khoa Hà Nội nhận định, vấn đề không chỉ nằm ở số lượng phương thức, mà quan trọng hơn là chất lượng và khả năng đối sánh giữa các phương thức.
Theo đó, nếu cùng một ngành tuyển sinh bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực và nhiều hình thức kết hợp khác nhưng không chứng minh được các thang điểm có thể quy đổi hợp lý, tính công bằng và chất lượng tuyển sinh sẽ khó được bảo đảm. Một chương trình có nhiều phương thức chưa chắc tuyển sinh kém hiệu quả hơn chương trình chỉ sử dụng một phương thức. Ngược lại, một phương thức duy nhất cũng chưa chắc phản ánh đầy đủ những năng lực cần thiết đối với người học.
Điều cần được quan tâm là phương thức tuyển sinh đánh giá năng lực nào, năng lực đó có liên quan đến khả năng học tập thành công trong chương trình hay không, kết quả đánh giá có đủ độ tin cậy và sinh viên được tuyển từ những nguồn khác nhau thể hiện ra sao sau khi nhập học.
Bộ GD&ĐT nên tập trung xây dựng các nguyên tắc chung, chuẩn tối thiểu và yêu cầu rõ ràng về công bằng, minh bạch, chất lượng. Các nhóm ngành như Kỹ thuật - Công nghệ, Y khoa, Khoa học Giáo dục, Ngoại ngữ, Nghệ thuật, Tâm lý học hay Kinh tế - Quản trị có đặc thù khác nhau, nên không nhất thiết phải áp dụng cùng một cấu hình năng lực đầu vào.
Tuyển sinh đại học không chỉ là phân phối chỉ tiêu mà còn là quá trình nhận diện và lựa chọn người học phù hợp để tiếp tục đào tạo thành nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội.
Vai trò của cơ quan quản lý cần tập trung vào ba yêu cầu chính là bảo đảm công bằng trong xét tuyển và cơ hội học tập; bảo đảm chất lượng bằng việc yêu cầu các phương thức đánh giá đúng năng lực; đồng thời tạo khuôn khổ để các trường chủ động lựa chọn người học phù hợp và chịu trách nhiệm về quyết định tuyển sinh.