| 10 tháng 2026, Việt Nam đã xuất khẩu gần 500 tỷ USD hàng hóa ra thị trường toàn cầu, trong đó riêng nhóm hàng máy tính điện tử gần 150 tỷ USD, tăng 71% so với cùng kỳ. |
Thương mại hàng hóa của nước ta sau chặng đường 10 tháng đã lập kỳ tích với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1.010,5 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ (tức tăng 246,83 tỷ USD), theo thông tin vừa được Cục Thống kê công bố sáng 3/11.
Việt Nam đã xuất khẩu thành công lượng hàng hóa trị giá 499,2 tỷ USD ra thị trường toàn cầu, tăng 27,5%, tương ứng tăng 107,6 tỷ USD về giá trị tuyệt đối so với cùng kỳ năm ngoái.
Chiều ngược lại, cả nước đã nhập khẩu lượng hàng hóa trị giá 511,31 tỷ USD, tăng 37,4%, tương ứng tăng 139,2 tỷ USD.
Cán cân thương mại sau 10 tháng nhập siêu 12,07 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,49 tỷ USD).
Quy mô thương mại vượt 1.000 tỷ USD, xuất khẩu xấp xỉ 500 tỷ USD, đà thu hẹp mức thâm hụt thương mại được cải thiện rõ trong 2 tháng gần đây (Xuất siêu tháng 9 là 1,3 tỷ USD, tháng 10 là 7,31 tỷ USD), nhưng tỷ trọng đóng góp về xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tăng 8,2%, chỉ chiếm 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu mười tháng năm 2026
|
| Giá trị (Triệu USD) | Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD |
|
|
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 149.408 | 71,0 |
| Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác | 63.268 | 30,4 |
| Điện thoại các loại và linh kiện | 57.611 | 18,4 |
| Hàng dệt, may | 33.735 | 2,2 |
| Giày dép | 20.240 | 1,8 |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | 16.943 | 17,1 |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 15.014 | 6,8 |
| Thủy sản | 10.365 | 10,9 |
Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33,0%, chiếm 81,2% .
Xuất khẩu tăng cao nhờ vào 3 nhóm hàng chủ lực, gồm: Điện tử, máy tính và linh kiện, Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác và điện thoại các loại và linh kiện.
Riêng 3 nhóm hàng này đã đóng góp doanh số xuất khẩu trên 270 tỷ USD, chiếm khoảng 54% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhóm hàng dệt may và giày dép có tăng trưởng nhưng là mức tăng chậm, lần lượt tăng 2,2% và 1,8%, đóng góp gần 54 tỷ USD. Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 6,8%, đạt trên 15 tỷ USD, thủy sản gần 10,4 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ.
Điểm sáng là xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao tại các thị trường chủ lực. Xuất khẩu sang Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đạt 159,40 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ, sang. Trung Quốc đạt 77,52 tỷ USD, tăng 36,2%, sang EU 57,42 tỷ USD, tăng 23,3%; sang Nhật Bản 26,23 tỷ USD, tăng 18,8%; sang ASEAN đạt 39,13 tỷ USD, tăng 22,9%...