Những giải pháp này được các doanh nghiệp BAF Việt Nam và GreenFeed chia sẻ tại Hội nghị “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía Nam”, tổ chức ngày 2/11 tại Cần Thơ. Từ thực tiễn sản xuất, các doanh nghiệp cho rằng công nghệ có thể tạo ra lợi ích kinh tế lớn, nhưng khả năng ứng dụng rộng rãi vẫn phụ thuộc vào cơ sở dữ liệu, nguồn nhân lực chuyên môn và cơ chế huy động vốn đầu tư dài hạn.
Bài toán tiết kiệm hàng trăm nghìn tấn thức ăn
Với mục tiêu cung ứng 10 triệu heo thương phẩm mỗi năm vào năm 2030, Công ty cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam xác định công nghệ chọn lọc hệ gen là một trong những hướng đi chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ giống và hiệu quả chăn nuôi.
Theo ông Nguyễn Văn Minh, Phó tổng Giám đốc BAF Việt Nam, hiệu quả sử dụng thức ăn là chỉ tiêu có ý nghĩa kinh tế đặc biệt quan trọng khi chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất.
Doanh nghiệp tính toán, với quy mô 10 triệu heo thương phẩm mỗi năm, trọng lượng xuất chuồng bình quân 115 kg/con, nếu giảm được 0,1 đơn vị hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), lượng thức ăn tiết kiệm có thể lên tới khoảng 115.000 tấn mỗi năm.
Để hiện thực hóa mục tiêu, trong năm 2026, BAF đã phối hợp với các nhà khoa học thuộc Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam lấy mẫu và gửi giải trình tự gen khoảng 3.000 mẫu.
Kết quả bước đầu giúp xác định những gen liên quan đến các tính trạng quan trọng như khả năng sinh sản, hiệu quả chuyển hóa thức ăn, chất lượng thịt, khả năng thích nghi và chống chịu. Thông qua dữ liệu di truyền, doanh nghiệp có thêm cơ sở lựa chọn những cá thể có đặc tính tốt để phát triển đàn giống, hướng tới cải thiện năng suất và giảm chi phí trong các thế hệ tiếp theo.
Theo đại diện BAF, lợi ích lâu dài của công nghệ chọn giống nằm ở khả năng chủ động cải thiện chất lượng đàn vật nuôi, thay vì phụ thuộc vào việc mua và sử dụng con giống có sẵn.
| Chuồng nuôi heo Greenfeed. Ảnh: Greenfeed |
Trong khi BAF tập trung vào công nghệ di truyền, GreenFeed lựa chọn hướng nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua AI, tự động hóa và quản trị dữ liệu tại trang trại.
Ông Đàm Quang Lộc, Tổng giám đốc Ngành Chăn nuôi Công ty GreenFeed cho biết, doanh nghiệp đang ứng dụng hệ thống camera tự động đếm heo tại các điểm nhập, xuất và bán hàng, hỗ trợ đối soát số lượng và theo dõi tồn đàn. Camera kết hợp AI còn được sử dụng để giám sát quy trình an toàn sinh học, phát hiện những tình huống bất thường cần kiểm tra, xử lý. Việc ứng dụng công nghệ giúp tăng khả năng giám sát, hạn chế sai sót trong quản lý và hỗ trợ phòng ngừa rủi ro dịch bệnh.
Để triển khai các giải pháp này, GreenFeed xây dựng nền tảng dữ liệu chung, kết nối thông tin sản xuất, chi phí và bán hàng. Dữ liệu tại chuồng nuôi được cập nhật qua ứng dụng di động, vật nuôi được định danh bằng thẻ điện tử RFID.
Hệ thống SCADA/IoT kết hợp cảm biến cũng được ứng dụng để điều khiển quạt, làm mát và chiếu sáng, góp phần tự động hóa hoạt động trang trại.
Trong thời gian tới, GreenFeed định hướng mở rộng ứng dụng AI sang dự báo năng suất, theo dõi sức khỏe đàn, tối ưu chế độ cho ăn và kế hoạch cung ứng. Doanh nghiệp cũng nghiên cứu phát triển các tác nhân AI có thể tự động thực hiện một số công việc trong phạm vi cho phép, trong khi con người tiếp tục quyết định những tình huống đòi hỏi đánh giá chuyên môn.
Gỡ điểm nghẽn dữ liệu, vốn đầu tư để công nghệ đi vào sản xuất
Dù tiềm năng ứng dụng lớn, quá trình làm chủ công nghệ trong ngành chăn nuôi vẫn đối mặt nhiều rào cản, đặc biệt về dữ liệu và nguồn lực nghiên cứu.
Theo đại diện BAF, các doanh nghiệp chăn nuôi hiện hoạt động tương đối độc lập, chưa hình thành được quần thể tham chiếu và hệ thống dữ liệu di truyền, kiểu hình đủ lớn, đủ chất lượng phục vụ phân tích và chọn giống. Trong khi đó, chi phí đầu tư công nghệ, thiết bị đánh giá năng suất và hạ tầng dữ liệu còn cao. Nguồn nhân lực chuyên sâu về di truyền định lượng, tin sinh học và phân tích dữ liệu cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển.
Những hạn chế này khiến việc nghiên cứu, phát triển công nghệ giống đòi hỏi nguồn lực lớn, trong khi khả năng chia sẻ dữ liệu và kết quả nghiên cứu giữa các đơn vị còn hạn chế.
Từ thực tế đó, ông Nguyễn Văn Minh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét xây dựng chương trình khoa học công nghệ trọng điểm về chọn giống vật nuôi, đặc biệt là giống heo bằng công nghệ gen trong giai đoạn 2027 - 2030.
Doanh nghiệp đồng thời đề xuất cơ chế hợp tác công - tư giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để xây dựng quần thể tham chiếu, phát triển công nghệ, đào tạo chuyên gia và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
GreenFeed kiến nghị tháo gỡ vướng mắc trong tiếp cận đất đai và thủ tục đầu tư để mở rộng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, bền vững. Doanh nghiệp cũng đề xuất cơ chế cho phép thử nghiệm, tiến tới thương mại hóa giống heo kháng bệnh tai xanh nếu nghiên cứu thành công và đáp ứng các yêu cầu chuyên môn, pháp lý.
Cùng với đó là kiến nghị tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kiểm dịch sản phẩm chăn nuôi tiêu thụ nội tỉnh, liên tỉnh, nhằm giảm những thủ tục không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát dịch bệnh.
| Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận chia sẻ tại Hội nghị “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía Nam". |
Từ góc độ quản lý nguồn lực, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận nhấn mạnh đầu tư cho nông nghiệp phải có trọng tâm, trọng điểm, gắn với hiệu quả kinh tế và tăng cường phối hợp giữa nguồn lực đầu tư công với đầu tư xã hội.
Theo Thứ trưởng, sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn đã bố trí cho các nhà thầu, nhà cung cấp mới đạt dưới 45%. Thực tế này cho thấy yêu cầu đẩy nhanh tiến độ triển khai, tránh tình trạng nguồn lực đã được bố trí nhưng chưa được đưa vào sử dụng hiệu quả.
Lãnh đạo Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan, đơn vị và đội ngũ nhà khoa học chủ động xác định nhiệm vụ, lĩnh vực ưu tiên, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các bên trong hợp tác công - tư, rà soát khả năng lồng ghép chương trình, dự án để hạn chế đầu tư phân tán, trùng lặp.
Đối với ngành chăn nuôi, định hướng này đặt ra yêu cầu lựa chọn những công nghệ có khả năng tạo chuyển biến trực tiếp về năng suất, chi phí, chất lượng sản phẩm và an toàn dịch bệnh. Việc nghiên cứu công nghệ gen cần gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu và khả năng thương mại hóa giống. Tương tự, đầu tư AI phải được đánh giá bằng hiệu quả vận hành, mức giảm chi phí, cải thiện năng suất và khả năng nhân rộng tại các trang trại.
Thứ trưởng cho biết Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan để hướng dẫn, lựa chọn và phân bổ nguồn lực phù hợp với mục tiêu tăng trưởng của ngành.