Y tế - Sức khỏe
Đau đầu kéo dài, cô gái 31 tuổi phát hiện áp xe não
D.Ngân - 13/03/2026 14:48
Đau đầu kéo dài tưởng chừng chỉ là triệu chứng thông thường, nhưng với một phụ nữ 31 tuổi ở Hà Nội, đó lại là dấu hiệu của áp xe não, có thể đe dọa tính mạng nếu chậm trễ điều trị.

Sau nhiều ngày đau đầu âm ỉ kèm mệt mỏi, ngủ li bì và có lúc choáng ngất, một phụ nữ 31 tuổi tại Hà Nội đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC thăm khám và bất ngờ được chẩn đoán mắc áp xe não - một bệnh lý nhiễm trùng nguy hiểm trong nhu mô não nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Kết quả MRI phát hiện tổn thương khu trú tại vùng đồi thị - vành tia bên trái.

Bệnh nhân là chị N.T.N.M. (31 tuổi, Hà Nội) đến khám trong tình trạng đau đầu kéo dài liên tục. Theo khai thác bệnh sử, khoảng hai tuần trước khi nhập viện, chị bắt đầu xuất hiện các cơn đau đầu âm ỉ, sau đó tăng dần theo thời gian và ít đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường.

Bệnh nhân không có biểu hiện chóng mặt, buồn nôn, nôn hay sốt, nhưng thường xuyên mệt mỏi, ngủ nhiều li bì và gần đây có xuất hiện tình trạng choáng ngất.

Được biết, cách đây một năm bệnh nhân từng được chẩn đoán phình động mạch phổi và đã được can thiệp nút mạch. Tiền sử gia đình chưa ghi nhận bất thường liên quan.

Khi thăm khám tại bệnh viện, bác sỹ ghi nhận bệnh nhân tỉnh táo với thang điểm Glasgow 15 điểm, tuy nhiên xuất hiện tình trạng yếu nửa người phải với cơ lực 4/5, dấu hiệu gợi ý tổn thương hệ thần kinh trung ương.

Kết quả xét nghiệm máu cho thấy số lượng bạch cầu và bạch cầu ái toan tăng cao, đồng thời men gan AST và ALT tăng rõ rệt, gợi ý tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng đang diễn ra trong cơ thể. Chụp CT phổi ghi nhận hình ảnh vật liệu can thiệp nội mạch tại động mạch phổi trái, phù hợp với tiền sử nút mạch trước đó, đồng thời phát hiện dị dạng thông động, tĩnh mạch phổi (AVM) bên phải cần tiếp tục theo dõi.

Đặc biệt, khi chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não, các bác sĩ phát hiện tổn thương khu trú tại vùng đồi thị, vành tia bên trái. Tổn thương dạng dịch có kích thước khoảng 26x37x25 mm, ranh giới rõ nhưng bờ không đều.

Phần trung tâm hạn chế khuếch tán, sau tiêm thuốc đối quang từ xuất hiện viền ngấm thuốc. Vùng xung quanh có phù não, gây hiệu ứng khối và đẩy lệch đường giữa sang phải khoảng 5 mm. Kết quả cộng hưởng từ phổ (MRS) ghi nhận giảm Choline và NAA, đồng thời tăng Lipid và Lactate, đặc điểm thường gặp trong các ổ áp xe não.

Sau khi hội chẩn chuyên môn, các bác sĩ kết luận bệnh nhân mắc áp xe não bán cầu trái và được chỉ định nhập viện điều trị nội trú theo phác đồ chuyên khoa nhằm kiểm soát nhiễm trùng và hạn chế các biến chứng thần kinh.

Theo BSCKI Hoàng Cao Tân, chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh, Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Tây Hồ, áp xe não là tình trạng viêm nhiễm khu trú trong nhu mô não, hình thành ổ mủ chứa vi khuẩn, tế bào bạch cầu và các mô bị hoại tử. Tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng.

Khi các vi sinh vật xâm nhập và phát triển trong mô não, cơ thể sẽ hình thành phản ứng viêm bao bọc ổ nhiễm trùng, tạo nên khối áp xe có thể gây phù não và chèn ép các cấu trúc thần kinh.

Vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào não theo nhiều con đường khác nhau. Phổ biến nhất là đường lan truyền kế cận từ các ổ nhiễm trùng vùng đầu, mặt, cổ như viêm tai giữa, viêm xoang hoặc nhiễm trùng răng.

Ngoài ra, vi khuẩn cũng có thể theo đường máu từ các ổ nhiễm trùng ở cơ quan khác như viêm nội tâm mạc hay nhiễm trùng phổi. Một số trường hợp áp xe não hình thành sau chấn thương sọ não hoặc sau phẫu thuật thần kinh do vi khuẩn xâm nhập trực tiếp vào nhu mô não. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp không xác định được nguồn lây rõ ràng.

Trong số các tác nhân gây bệnh, vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất. Nhóm Streptococcus chiếm khoảng 35-50% các trường hợp, đặc biệt là Streptococcus anginosus. Ngoài ra, Staphylococcus aureus và Staphylococcus epidermidis thường liên quan đến các trường hợp áp xe não sau phẫu thuật thần kinh hoặc can thiệp ngoại khoa vùng sọ não.

Triệu chứng của áp xe não khá đa dạng và phụ thuộc vào vị trí, kích thước ổ áp xe cũng như mức độ tiến triển của bệnh. Người bệnh có thể xuất hiện hội chứng nhiễm trùng với sốt, tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng có biểu hiện này.

Đồng thời, sự xuất hiện của ổ áp xe trong não có thể gây hội chứng tăng áp lực nội sọ với các triệu chứng như đau đầu dữ dội, nôn vọt hoặc phù gai thị. Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể xuất hiện các dấu hiệu thần kinh khu trú như yếu hoặc liệt tay chân, co giật, rối loạn ngôn ngữ tùy thuộc vào vùng não bị tổn thương.

Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, áp xe não có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Nghiêm trọng nhất là tình trạng vỡ ổ mủ vào hệ thống não thất gây nhiễm trùng lan rộng trong não.

Bệnh cũng có thể làm tăng áp lực nội sọ dẫn đến tụt não, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Ngoài ra, áp xe não còn có thể gây não úng thủy do cản trở lưu thông dịch não tủy.

Theo các chuyên gia, trong chẩn đoán áp xe não, cộng hưởng từ thường quy (MRI) và cộng hưởng từ phổ (MRS) đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá toàn diện tổn thương. MRI cung cấp thông tin về hình thái và cấu trúc giải phẫu của tổn thương, trong khi MRS cho phép phân tích thành phần hóa học và các chất chuyển hóa bên trong mô não.

Trên MRI, ổ áp xe thường có hình ảnh đặc trưng: trung tâm tổn thương giảm tín hiệu trên chuỗi T1W do chứa dịch mủ, trong khi trên chuỗi T2W trung tâm tăng tín hiệu do mủ đã hóa lỏng và xuất hiện phù não lan rộng xung quanh. Sau tiêm thuốc đối quang từ, tổn thương thường ngấm thuốc dạng viền mỏng đều, dấu hiệu gợi ý ổ áp xe đã hình thành vỏ bao.

Đặc biệt, chuỗi xung khuếch tán (DWI) thường ghi nhận hiện tượng hạn chế khuếch tán ở trung tâm ổ áp xe do mủ đặc chứa nhiều tế bào viêm và mảnh vụn tế bào.

Bên cạnh đó, cộng hưởng từ phổ (MRS) cung cấp thêm thông tin về thành phần chất chuyển hóa trong tổn thương. Với áp xe não, MRS thường ghi nhận tăng các đỉnh Lactate và Lipids.

Đây là sản phẩm của quá trình chuyển hóa yếm khí và hoại tử mô, đồng thời giảm các chất chuyển hóa đặc trưng của mô não như NAA, Choline và Creatine. Việc kết hợp các kỹ thuật cộng hưởng từ giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, đồng thời hỗ trợ phân biệt áp xe não với các tổn thương khác như u não nguyên phát hoặc di căn não.

Tin liên quan
Tin khác