Chuyển từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo
Việc sửa đổi Luật Hải quan năm 2014 là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế số, thương mại điện tử xuyên biên giới và chuỗi cung ứng toàn cầu.
| Trung tâm giám sát trực tuyến của ngành Hải quan. Ảnh: Văn Tá. |
Theo ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan các Nghị quyết 57-NQ/TW về chuyển đổi số và 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng có tính dự báo, dẫn dắt và giải phóng nguồn lực.
Việc hoàn thiện hành lang pháp lý lúc này là cơ sở cốt lõi để hiện thực hóa mô hình Hải quan số và Hải quan thông minh, tháo gỡ các nút thắt về thủ tục và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Một trong những thay đổi quan trọng của dự thảo Luật Hải quan sửa đổi là chuyển dịch triết lý quản lý từ “quản lý hành chính” sang “phục vụ và kiến tạo”, hướng tới thúc đẩy tuân thủ tự nguyện trên nền tảng quản lý rủi ro.
Theo ông Nguyễn Thành Hưng, tạo thuận lợi thương mại không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Cơ quan Hải quan sẽ tăng cường thu thập, phân tích dữ liệu, nhận diện rủi ro để tập trung nguồn lực vào những đối tượng, lô hàng có nguy cơ cao.
Cách tiếp cận này nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo môi trường minh bạch cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh với buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi vi phạm xuyên biên giới.
Đối với Hải quan số và thông quan tự động, dự thảo Luật hướng tới chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị bằng dữ liệu. Các hồ sơ, chứng từ hải quan được chuẩn hóa thành các thông điệp dữ liệu, tạo nền tảng để kết nối, phân tích và xử lý tự động.
Ông Hưng cho biết, hệ thống có thể tích hợp các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), đối soát thông tin tờ khai với cơ sở dữ liệu và lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp để hỗ trợ phân luồng Xanh, Vàng, Đỏ. Điểm cốt lõi trong bước đi lần này là việc dịch chuyển từ mô hình số hóa quy trình sang quản trị bằng dữ liệu
Đáng chú ý, dự thảo dành quy định riêng cho quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới. Theo đó, trách nhiệm cung cấp thông tin được đặt vào các sàn thương mại điện tử, cùng với yêu cầu xác thực định danh điện tử của người mua.
Việc minh bạch hóa dòng hàng, dòng tiền và định danh được kỳ vọng giúp cơ quan Hải quan chủ động hơn trong quản lý, đồng thời hạn chế tình trạng chia nhỏ đơn hàng để lợi dụng chính sách miễn thuế.
Cắt giảm rào cản, giảm chi phí tuân thủ
Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Thành Hưng, dự thảo Luật cũng tập trung cắt giảm các rào cản hành chính, hướng tới mục tiêu giảm chi phí tuân thủ theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW.
Một số nội dung đáng chú ý gồm đơn giản hóa điều kiện công nhận đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý; kéo dài thời hạn lưu giữ hàng hóa tại kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế lên tối đa 24 tháng, đồng thời bỏ thủ tục gia hạn định kỳ.
Thời hạn lưu giữ tại địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS) cũng được đề xuất nâng lên tối đa 180 ngày và chuyển sang cơ chế theo dõi tự động trên hệ thống.
Bên cạnh đó, dự thảo hướng tới giảm nghĩa vụ báo cáo bằng văn bản của doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng biển, thay bằng kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ quan Hải quan để phục vụ giám sát từ xa.
Một nội dung khác được ông Nguyễn Thành Hưng nhấn mạnh là phân cấp, phân quyền và đổi mới kiểm tra sau thông quan.
Theo đó, nhiều thẩm quyền sự vụ được phân cấp xuống cấp chi cục, cấp đội để xử lý ngay tại cửa khẩu; trong khi Luật tập trung quy định các nguyên tắc, nội dung mang tính ổn định lâu dài. Những vấn đề thường xuyên thay đổi theo công nghệ và thực tiễn như thương mại điện tử, hồ sơ hải quan, quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ... sẽ được giao Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết.
Đối với kiểm tra sau thông quan, dự thảo hướng tới hợp nhất các hình thức kiểm tra tại cơ quan Hải quan và tại trụ sở người khai hải quan, qua đó tạo sự linh hoạt trong lựa chọn địa điểm kiểm tra, giảm chi phí cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
“Việc kiểm tra phải theo kế hoạch hàng năm dựa trên quản lý rủi ro”, ông Hưng cho biết, đồng thời nêu đề xuất thời hạn kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp tối đa 20 ngày, có thể gia hạn không quá 20 ngày.
Theo ông, cách làm này giúp cơ quan Hải quan có thêm thời gian phân tích dữ liệu, hạn chế việc đưa ra kết luận vội vàng và tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động bố trí nhân lực phục vụ kiểm tra.
Nhìn tổng thể, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đang được xây dựng theo hướng lấy dữ liệu, công nghệ và quản lý rủi ro làm nền tảng, lấy tạo thuận lợi thương mại và giảm chi phí tuân thủ làm trọng tâm, đồng thời tăng cường hiệu quả kiểm soát đối với các hoạt động có nguy cơ cao.
Đây được xem là nền tảng pháp lý quan trọng để ngành Hải quan chuyển mạnh sang mô hình số, hiện đại và phục vụ tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.