Dinh dưỡng trẻ em Việt Nam đang đứng trước một bài toán ngày càng phức tạp bởi suy dinh dưỡng, thấp còi vẫn tồn tại, nhất là tại vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn khó khăn, tình trạng thừa cân, béo phì lại gia tăng nhanh ở trẻ em thành thị. Xen giữa hai thái cực này là thiếu vi chất dinh dưỡng - vấn đề không phải lúc nào cũng biểu hiện rõ ra bên ngoài nhưng có thể tác động lâu dài đến sự phát triển của trẻ.
| Các diễn giả tham gia Hội thảo khoa học “Tầm quan trọng của vi chất dinh dưỡng với trẻ em”. |
Đây là một trong những vấn đề được các chuyên gia đặt ra tại Hội thảo khoa học “Tầm quan trọng của vi chất dinh dưỡng với trẻ em”, do Hội Y học Dự phòng Việt Nam tổ chức ngày 25/8 tại Hà Nội, với sự tham dự của hơn 170 đại biểu là cán bộ quản lý y tế, đại diện Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phía Bắc cùng các chuyên gia và đơn vị liên quan.
Nhìn từ bức tranh toàn cầu, vấn đề dinh dưỡng trẻ em đang thay đổi nhanh chóng. Suy dinh dưỡng, thiếu vi chất chưa được giải quyết hoàn toàn trong khi thừa cân, béo phì gia tăng mạnh, tạo nên “gánh nặng kép” về dinh dưỡng.
Số liệu được trình bày tại hội thảo cho thấy hơn 149 triệu trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới bị thấp còi, 45 triệu trẻ bị gầy còm. Ở chiều ngược lại, hơn 390 triệu trẻ em và thanh thiếu niên 5-19 tuổi bị thừa cân, trong đó khoảng 160 triệu trường hợp béo phì.
Việt Nam cũng đang đối mặt đồng thời với nhiều vấn đề. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể trong những thập niên qua, từ 56,5% năm 1990 xuống 29,3% năm 2010 và 19,6% năm 2020. Số liệu điều tra giai đoạn 2022-2025 được trình bày tại hội thảo cho thấy tỷ lệ này tiếp tục giảm còn 14,8% vào năm 2025.
Tuy nhiên, kết quả chung không đồng nghĩa khoảng cách dinh dưỡng giữa các khu vực đã được thu hẹp hoàn toàn. Suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi vẫn tập trung nhiều hơn tại các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn. Trong khi đó, thừa cân, béo phì lại tăng nhanh, đặc biệt ở nhóm trẻ 5-19 tuổi tại các thành phố, thị trấn.
Một vấn đề đáng lưu ý khác là thiếu vi chất dinh dưỡng. Các số liệu được trình bày tại hội thảo cho thấy ở trẻ 6-59 tháng tuổi tại Việt Nam, tỷ lệ thiếu máu là 18,1% vào năm 2020, giảm từ 27,8% năm 2015; 53,3% trẻ trong nhóm tuổi này có nồng độ kẽm huyết thanh thấp. Với vitamin D, 21% trẻ dưới 6 tuổi có nồng độ dưới 30 nmol/L.
Những con số này cho thấy câu chuyện dinh dưỡng trẻ em hiện nay không thể chỉ nhìn qua cân nặng hay chiều cao. PGS-TS.Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho rằng, dinh dưỡng trẻ em Việt Nam đang đứng trước một gánh nặng kép gồm suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và thừa cân, béo phì. Nếu tại một số vùng kinh tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn trẻ thấp còi, nhẹ cân thì tại đô thị, thừa cân và béo phì lại gia tăng.
Ở giữa hai vấn đề dễ nhận thấy đó là thiếu vi chất - tình trạng có thể khó phát hiện bằng mắt thường nhưng ảnh hưởng đến tăng trưởng, miễn dịch, phát triển thể chất và nhận thức. Điều này đòi hỏi cách tiếp cận dinh dưỡng trẻ em phải thay đổi. Mục tiêu không đơn thuần là “cho trẻ ăn no”, mà phải hướng tới ăn đủ, đa dạng, cân đối và phù hợp với nhu cầu của cơ thể trong từng giai đoạn phát triển.
Một trong những quan niệm phụ huynh dễ mắc phải là đánh giá tình trạng dinh dưỡng chủ yếu bằng hình thức bên ngoài. Trẻ không gầy, vẫn tăng cân, chạy nhảy và học tập bình thường thường được xem là đã được nuôi dưỡng đầy đủ.
PGS-TS.Trần Thanh Dương lưu ý, một đứa trẻ vẫn có thể vui chơi, học tập, tăng cân và nhìn hoàn toàn khỏe mạnh nhưng khẩu phần ăn hằng ngày chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cơ thể về một số vitamin và khoáng chất.
Có thể hình dung những gì cha mẹ nhìn thấy mới chỉ là “phần nổi của tảng băng”. Những khoảng trống dinh dưỡng bên trong không phải lúc nào cũng lập tức biểu hiện thành một triệu chứng cụ thể.
Bởi vậy, chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ không nên chỉ dừng ở những câu hỏi như “con có ăn được không”, “con có gầy không” hay “con có tăng cân không”, mà cần quan tâm tới chất lượng khẩu phần, mức độ đa dạng thực phẩm, sự cân đối và nhu cầu dinh dưỡng tương ứng với từng lứa tuổi.
Điều này đặc biệt quan trọng bởi các vi chất dù cơ thể chỉ cần với lượng nhỏ nhưng tham gia vào nhiều quá trình sinh học thiết yếu. Khi tình trạng thiếu hụt kéo dài, sự phát triển của trẻ có thể bị ảnh hưởng trước khi những biểu hiện rõ ràng xuất hiện.
Chẳng hạn, số liệu Tổng điều tra Dinh dưỡng cho thấy thiếu kẽm huyết thanh tại Việt Nam đã có xu hướng giảm, nhưng đến năm 2020 vẫn ở mức cao.
Từ góc độ dự phòng, việc nhận diện nguy cơ trước khi xuất hiện vấn đề sức khỏe rõ ràng vì vậy có ý nghĩa quan trọng. PGS.TS.BS. Trần Thanh Dương giải thích, “dinh dưỡng dự phòng” có thể hiểu đơn giản là chủ động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ ngay từ đầu, thay vì đợi trẻ thấp còi mới quan tâm đến tăng trưởng, đợi thiếu máu mới chú ý tới sắt hay đợi thừa cân, béo phì mới điều chỉnh chế độ ăn và vận động.
Nền tảng cần được xây dựng từ sớm bằng chế độ ăn đa dạng, cân đối, phù hợp lứa tuổi, vận động hợp lý, ngủ đủ và theo dõi tăng trưởng thường xuyên. Đối với trẻ thuộc nhóm nguy cơ hoặc khẩu phần chưa đáp ứng nhu cầu, cán bộ y tế có thể đánh giá và tư vấn giải pháp phù hợp.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030 là bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, cải thiện tình trạng dinh dưỡng phù hợp với từng đối tượng, địa phương, vùng miền và dân tộc; qua đó giảm gánh nặng bệnh tật, nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ người Việt Nam.
Một thực tế khác được các chuyên gia lưu ý là khi quan tâm đến dinh dưỡng, nhiều phụ huynh có xu hướng tập trung vào một vài vi chất riêng lẻ như canxi, kẽm hay vitamin D. Khi một sản phẩm hoặc vi chất trở thành chủ đề được nhắc đến nhiều trên mạng xã hội, không ít cha mẹ tìm cách bổ sung cho trẻ mà chưa xác định trẻ có thực sự thiếu hay không.
Lãnh đạo Viện Dinh dưỡng cho rằng, tăng trưởng của trẻ là kết quả của cả một quá trình hấp thu, chuyển hóa và sử dụng nhiều chất dinh dưỡng, từ protein, chất béo, carbohydrate đến vitamin và khoáng chất.
Do đó, không thể chỉ nói tới canxi mà bỏ qua vitamin D, vitamin K2 và chế độ ăn tổng thể; cũng không thể chỉ quan tâm đến kẽm mà quên chất lượng và sự đa dạng của khẩu phần.
Câu hỏi cần được đặt ra trước khi bổ sung là trẻ đang thiếu gì, nguyên nhân vì sao và trẻ có thực sự cần bổ sung hay không. “Tôi không khuyến khích phụ huynh chạy theo một vi chất đang được quảng cáo hoặc trở thành ‘xu hướng’ trên mạng xã hội”, PGS-TS.Trần Thanh Dương nhấn mạnh.
Thông điệp được chuyên gia đưa ra là không nên tìm kiếm một “vi chất thần kỳ”. Điều quan trọng trước hết là xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ. Nếu cần bổ sung, việc lựa chọn phải dựa trên nhu cầu thực tế, bằng chứng khoa học và tư vấn chuyên môn.
Các báo cáo tại hội thảo cũng nhấn mạnh nguyên tắc “đúng và đủ” khi bổ sung vi chất. Trước hết cần ưu tiên nguồn dinh dưỡng tự nhiên thông qua chế độ ăn đa dạng, đủ các nhóm thực phẩm; đồng thời phải tính đến tuổi, giới tính và đặc điểm sinh lý của từng trẻ. Cha mẹ không nên tự ý sử dụng các sản phẩm bổ sung liều cao khi chưa có chỉ định chuyên môn.
Ở góc độ rộng hơn, dinh dưỡng dự phòng không bắt đầu khi một đứa trẻ xuất hiện vấn đề, mà cần được thực hiện theo vòng đời, ngay từ sức khỏe và dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai, thời kỳ cho con bú và những năm đầu đời của trẻ.
Các khuyến nghị được trình bày tại hội thảo nhấn mạnh chế độ ăn đủ, cân đối và đa dạng hằng ngày; phối hợp thực phẩm nguồn gốc động vật và thực vật; tăng thực phẩm giàu vi chất, rau, củ, quả nhiều màu sắc; sử dụng hợp lý thực phẩm giàu đạm và uống đủ nước. Phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú cần có chế độ ăn phù hợp và bổ sung sắt, acid folic hoặc đa vi chất theo hướng dẫn chuyên môn.