Giá đầu vào tăng, người nuôi khó cân đối dòng tiền
Giá thức ăn chăn nuôi liên tục điều chỉnh trong những tháng gần đây đang bào mòn lợi nhuận của trang trại, hợp tác xã và các hộ sản xuất nhỏ. Mỗi lần tăng thêm vài trăm đồng trên một kg sản phẩm có thể nhanh chóng chuyển thành khoản chi hàng chục triệu đồng với những cơ sở sử dụng lượng lớn thức ăn mỗi tháng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đã tăng giá từ 100 - 300 đồng/kg nhằm bù đắp chi phí đầu vào. Giá nguyên liệu nhập khẩu, cước vận tải biển, phí bảo hiểm cùng rủi ro trên các tuyến hàng hải quốc tế tiếp tục tạo áp lực lên giá thành sản xuất trong nước.
Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, nhất là nguy cơ gián đoạn vận tải qua Biển Đỏ và eo biển Hormuz, khiến hành trình đưa nguyên liệu về Việt Nam kéo dài và tốn kém hơn. Giá hàng hóa thế giới chưa hạ nhiệt, trong khi doanh nghiệp phải duy trì lượng tồn kho đủ lớn để bảo đảm sản xuất, phân phối liên tục.
| Mức tăng trên mỗi bao thức ăn nhìn riêng lẻ có thể chưa lớn, song một trang trại sử dụng hàng chục hoặc hàng trăm bao mỗi tháng sẽ phải gánh thêm khoản tiền đáng kể. |
Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự báo giá thức ăn chăn nuôi trong những tháng cuối năm 2026 có thể tăng thêm 3 - 5%. Với tỷ lệ nhập khẩu trên 65% nguyên liệu thô và hơn 90% phụ gia, mỗi biến động bên ngoài đều có khả năng tác động trực tiếp tới chi phí của ngành chăn nuôi trong nước.
Ông Đặng Thái Sơn, hộ chăn nuôi tại xã Suối Hai, Hà Nội vừa xuất bán hơn 1.000 con gà thịt sau 45 ngày nuôi. Sau khi cộng chi phí con giống, thức ăn công nghiệp, thuốc thú y, sửa chữa chuồng trại và các khoản liên quan, gia đình ông lỗ gần 10 triệu đồng.
Tình trạng này cũng xuất hiện tại nhiều vùng nuôi gà công nghiệp do giá thức ăn tăng liên tục, thời tiết khắc nghiệt hơn, nguy cơ dịch bệnh cao khiến người dân phải tăng chi phí phòng ngừa, chăm sóc và xử lý môi trường. Nhiều hộ buộc phải giảm đàn, kéo dài thời gian tái đàn, thậm chí tạm đóng chuồng để hạn chế thua lỗ.
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, giá thức ăn chăn nuôi toàn cầu đã tăng 10-15% trong vài tháng qua và có thể tiếp tục lên mức 20 - 25%. Diễn biến này nhanh chóng kéo giá thức ăn trong nước đi lên.
Trái ngược với đầu vào, giá nhiều sản phẩm chăn nuôi có thời điểm xuống thấp. Giá trứng gà hiện chỉ dao động 2.000 - 2.200 đồng/quả, thấp hơn giá thành khoảng 400-600 đồng. Giá gà thịt giảm 35 - 40% so với đầu năm, còn khoảng 30.000 - 35.000 đồng/kg; gà ta phổ biến ở mức 40.000 - 50.000 đồng/kg.
Tính từ trước khi xung đột tại Trung Đông xảy ra, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng tổng cộng khoảng 1.000 đồng/kg. Với một con lợn thịt đạt trọng lượng 100 kg, người nuôi phải bỏ thêm khoảng 300.000 đồng tiền vốn, gồm 250.000 đồng do giá cám tăng và 50.000 đồng từ chi phí vận chuyển. Trong khi giá thịt lợn bán lẻ liên tục tăng, giá lợn hơi tại chuồng lại có xu hướng giảm. Thương lái hiện thu mua phổ biến ở mức 60.000 - 62.000 đồng/kg.
Với mặt bằng chi phí này, những hộ tự chủ được con giống và kiểm soát tốt dịch bệnh may ra đạt điểm hòa vốn. Các hộ phải mua con giống bên ngoài có nguy cơ thua lỗ cao hơn.
Người chăn nuôi cũng khó chuyển toàn bộ phần chi phí tăng thêm sang người mua bởi giá lợn, gà, trứng phụ thuộc cung cầu thị trường. Khi giá thức ăn tăng nhanh hơn giá đầu ra, biên lợi nhuận lập tức thu hẹp. Cùng với đó là các khoản đầu tư cho chuồng trại an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh, xử lý chất thải và thích ứng thời tiết cực đoan. Những chi phí này ngày càng khó cắt giảm khi yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm tiếp tục nâng lên.
Hơn 65% nguyên liệu thô phụ thuộc nhập khẩu
Áp lực hiện nay bộc lộ điểm yếu kéo dài của ngành chăn nuôi Việt Nam, nguồn nguyên liệu phụ thuộc lớn vào thị trường thế giới. Mỗi năm, cả nước sản xuất khoảng 20 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp, nhưng nguồn cung trong nước mới đáp ứng khoảng 35%.
Phần còn lại được nhập khẩu khiến giá thành dễ biến động theo tỷ giá, chính sách xuất khẩu của các nước, cước vận tải và tình hình địa chính trị. Riêng nhóm vitamin, axit amin, khoáng chất và phụ gia thức ăn, tỷ lệ nhập khẩu vượt 90%.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt khoảng 2,2 tỷ USD, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Mỹ đứng đầu với tỷ trọng 21,1%, tiếp theo là Argentina chiếm 18,1% và Trung Quốc chiếm 12,8%.
Kim ngạch giảm chưa đồng nghĩa sức ép chi phí đã dịu lại, giá nhập khẩu, cước vận tải và phí bảo hiểm vẫn biến động, trong khi nhu cầu nguyên liệu duy trì ở mức cao. Nguồn cung trong nước hiện vẫn đủ đáp ứng thị trường, chưa xuất hiện nguy cơ thiếu hàng và tác động tới chỉ số giá tiêu dùng vẫn trong khả năng kiểm soát. Tuy nhiên, sức chịu đựng của người sản xuất, đặc biệt là hộ quy mô nhỏ, đang giảm dần.
| Nhà nước cần tiếp tục có chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đổi mới công nghệ và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu công thức thức ăn chăn nuôi. |
Trước nguy cơ gián đoạn từ các thị trường truyền thống, Việt Nam cần mở rộng nhập khẩu từ Nam Mỹ, Ấn Độ, Đông Âu và một số quốc gia châu Á. Mạng lưới nhà cung cấp đa dạng sẽ giảm rủi ro tập trung, tăng khả năng đàm phán và tạo dư địa xoay xở khi một tuyến vận tải gặp sự cố.
Hệ thống dự trữ nguyên liệu chiến lược cũng cần được nghiên cứu nhằm ứng phó với những đợt gián đoạn ngắn hạn. Cơ chế này phải tính toán kỹ chi phí kho bãi, thời hạn bảo quản, năng lực tài chính của doanh nghiệp và phương thức phối hợp giữa Nhà nước với khu vực tư nhân.
Phó chủ tịch Thường trực Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị các địa phương quy hoạch vùng trồng ngô, đậu tương và cây nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn. Vùng nguyên liệu cần gắn với nhu cầu của nhà máy, hợp đồng tiêu thụ và tiêu chuẩn chất lượng, tránh mở rộng diện tích tự phát.
Thực tế, một số doanh nghiệp đã chủ động triển khai các mô hình liên kết phát triển vùng nguyên liệu. Điển hình như Tập đoàn De Heus đang đầu tư dự án trồng ngô phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi. Năm 2025, doanh nghiệp đã cung ứng khoảng 100.000 tấn ngô cho các nhà máy sản xuất và dự kiến trong những năm tới có thể nâng lên khoảng 500.000 tấn mỗi năm thông qua chuỗi liên kết sản xuất.
Cùng với việc phát triển vùng nguyên liệu, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đổi mới công nghệ và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu công thức thức ăn chăn nuôi tối ưu, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn bảo đảm chất lượng dinh dưỡng cho vật nuôi.