Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Theo kế hoạch, từ tháng 3/2026, Hà Nội sẽ thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Bệnh viện Ung bướu Hà Nội. Hiện các cơ sở y tế đang tích cực chuẩn bị hạ tầng công nghệ và nhân lực để triển khai.
| Từ tháng 3/2026, Hà Nội sẽ thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Bệnh viện Ung bướu Hà Nội. |
TS.Đỗ Đình Tùng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cho biết, AI dự kiến được ứng dụng trước tiên trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, hỗ trợ phân tích dữ liệu từ các kỹ thuật như X-quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI).
Theo ông Tùng, hệ thống AI có thể hỗ trợ phát hiện sớm nhiều bệnh lý nguy hiểm như ung thư, đột quỵ, bệnh tim mạch và các bệnh lý về phổi. Trong giai đoạn đầu, việc thí điểm sẽ tập trung tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh và các chuyên khoa liên quan nhằm đánh giá hiệu quả thực tế của công nghệ này trong hỗ trợ bác sỹ đọc và phân tích hình ảnh y khoa.
Dự kiến ngay trong tháng 3/2026, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang sẽ bắt đầu triển khai AI trong một số hoạt động của Khoa Chẩn đoán hình ảnh, sau đó tiến hành đánh giá hiệu quả để từng bước mở rộng ứng dụng.
Tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, từ năm 2025 bệnh viện đã sử dụng phần mềm AI hỗ trợ đọc phim X-quang, giúp phân tích gần 21.000 ca bệnh.
Sau khi có kết quả chụp, hệ thống AI sẽ ghi nhận các tổn thương nghi ngờ như một nguồn tham khảo để bác sỹ hạn chế bỏ sót, đặc biệt trong tầm soát ung thư phổi.
Thời gian tới, bệnh viện dự kiến mở rộng ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh như MRI, CT và hỗ trợ lập kế hoạch xạ trị thông minh. Bên cạnh đó, công nghệ này cũng có thể hỗ trợ đọc tiêu bản bệnh phẩm, giúp quá trình phân tích nhanh hơn và giảm nguy cơ bỏ sót tổn thương.
Ngoài lĩnh vực chuyên môn, AI còn được định hướng ứng dụng trong quản lý hồ sơ bệnh án, giám sát quy chế chuyên môn cũng như hỗ trợ kiểm soát các vấn đề liên quan đến bảo hiểm y tế và thanh toán chi phí khám chữa bệnh.
Bệnh viện cũng đang phát triển ứng dụng tích hợp chatbot AI nhằm cung cấp thông tin về thủ tục khám chữa bệnh, lịch khám, giá dịch vụ, quy trình điều trị và hướng dẫn di chuyển trong bệnh viện. Hệ thống chatbot hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm và dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng trong thời gian tới.
Các chuyên gia y tế nhận định, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khám chữa bệnh có thể mang lại nhiều lợi ích cho cả bác sỹ và người bệnh.
Đối với bác sỹ, AI giúp phân tích nhanh khối lượng lớn dữ liệu hình ảnh y khoa, đồng thời gợi ý những dấu hiệu bất thường có thể bị bỏ sót trong quá trình đọc phim. Đây được xem là công cụ tham khảo quan trọng giúp bác sỹ đưa ra quyết định lâm sàng chính xác hơn.
Tuy nhiên, lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Đức Giang nhấn mạnh, AI chỉ đóng vai trò hỗ trợ, còn quyết định chuyên môn cuối cùng vẫn thuộc về bác sỹ.
Đối với người bệnh, việc ứng dụng AI có thể giúp phát hiện bệnh sớm hơn, tăng độ chính xác trong chẩn đoán và rút ngắn thời gian chờ kết quả. Điều này góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và cải thiện trải nghiệm của bệnh nhân, đặc biệt trong bối cảnh số lượng người bệnh tại các bệnh viện ngày càng tăng.
Trong quá trình chuẩn bị triển khai thí điểm, một số khó khăn bước đầu cũng được ghi nhận, chủ yếu liên quan đến hạ tầng công nghệ.
Các bệnh viện cần đầu tư hệ thống máy tính có cấu hình đủ mạnh để vận hành AI, đồng thời phải chuẩn hóa dữ liệu và tối ưu hệ thống nhằm phù hợp với thực tiễn hoạt động. Ngoài ra, các bệnh viện hiện phải tự chi trả cho phần mềm, nhân sự và hệ thống vận hành trong khi chưa có nguồn thu trực tiếp từ công nghệ này.
Nói về tầm quan trọng của dữ liệu Al trong y tế, ông Đỗ Trường Duy, Giám đốc Trung tâm Thông tin Y tế quốc gia, Bộ Y tế cho biết, nếu trí tuệ nhân tạo là bộ não, thì dữ liệu chính là máu nuôi hệ thần kinh của ngành y tế số. Bởi trong y tế, dữ liệu không chỉ phục vụ điều trị mà còn dự báo, quản lý và hoạch định chính sách.
Chúng ta có nhiều dữ liệu y tế nhưng hiện phân mảnh, chưa có dữ liệu đủ tin cậy để AI học và hiểu con người Việt Nam về y tế Việt Nam. Dữ liệu rời rạc, thiếu bảo mật, thiếu nhân lực có trình độ công nghệ thông tin.
Theo báo cáo khảo sát của Trung tâm Y quốc gia năm 2024, 13% cơ sở thiếu dữ liệu, 66% thiếu kinh phí, 28% thiếu nhân lực công nghệ thông tin. Bảo hiểm y tế mới chỉ dùng công nghệ thông tin để thanh toán, còn có hơn 200 triệu bản ghi/năm toàn quốc.
Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế mà chưa chia sẻ để phát triển ứng dụng y tế số khác bao gồm AI. Hoặc y tế dự phòng 34 CDC tỉnh/thành phố chưa liên thông; Tiêm chủng: 98% dân số thiếu tích hợp dữ liệu lâm sàng; 3.321 Trạm y tế xã/phường đủ điện năng, nhưng thiếu thiết bị AI.
GS-TS.TTND.Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, AI không chỉ là công nghệ mà đó là lời hứa về một nền y học nhân văn, chính xác và công bằng hơn. Việt Nam cần nắm bắt cơ hội này để trở thành trung tâm khu vực về nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y học.
Từ góc nhìn của bác sỹ, PGS-TS.Nguyễn Lê Bảo Tiến, Phó trưởng khoa Y, Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở Linh Đàm chỉ ra rằng, hệ thống y tế Việt Nam hiện chia thành ba tuyến là trung ương, tỉnh/thành phố và xã/phường.
Bảo hiểm y tế đã bao phủ 93% dân số, nhưng chất lượng chưa đồng đều, tập trung quá mức ở bệnh viện tuyến trung ương. Thiếu nền tảng dữ liệu y tế quốc gia, bệnh viện chưa số hóa toàn diện, nhân lực y tế tập trung tại đô thị, thiếu chuyên khoa tại tuyến huyện, xã dẫn đến quá tải bệnh viện tuyến trung ương.
Trong bối cảnh này, AI có thể hỗ trợ điều phối, phân tầng bệnh nhân, tối ưu hóa quy trình chăm sóc, đào tạo, chẩn đoán từ xa và giảm tải hành chính.
PGS.Nguyễn Lê Bảo Tiến nhấn mạnh rằng AI có thể trở thành “người trợ lý số” giúp bác sỹ tuyến dưới đọc phim, gợi ý chẩn đoán và tư vấn phác đồ điều trị. Tuy nhiên, dữ liệu hiện phần lớn còn trên giấy, thiếu chuẩn hóa, trùng lặp và sai lệch, nên việc đầu tiên cần làm là làm sạch dữ liệu.
Đồng thời, việc triển khai AI đòi hỏi khung pháp lý rõ ràng. Ông khẳng định, AI là công cụ tăng sức mạnh cho bác sỹ, không phải đối thủ. Bác sỹ biết dùng AI sẽ là người dẫn đầu y học tương lai.
Còn theo GS-TS.Nguyễn Thanh Thủy, Chủ tịch FISU Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Công nghệ thông tin, Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là độ chính xác của mô hình AI, mà là tính sẵn sàng, chuẩn hóa và liên thông của dữ liệu y tế.
Dữ liệu được coi là tài nguyên quý giá nhưng đang bị phân mảnh, chưa chuẩn hóa và thiếu đồng bộ, là nút thắt cần tháo gỡ cấp bách.
Để AI thực sự kiến tạo một hệ thống y tế hiện đại và bền vững, GS.Nguyễn Thanh Thủy đề xuất ba trụ cột chiến lược: thứ nhất, chuẩn hóa dữ liệu y tế quốc gia theo chuẩn quốc tế để mọi ứng dụng AI có thể mở rộng, khách quan và hiệu quả; thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực liên ngành, xuyên ngành, vừa hiểu bệnh lý vừa thành thạo khoa học dữ liệu và AI; thứ ba, xây dựng khung pháp lý và đạo đức AI, đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và không để “hộp đen” ra quyết định liên quan sinh mạng con người.
Về phía Bộ Y tế, theo ông Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, ngành y tế Việt Nam đã ứng dụng AI tương đối sớm trong nhiều lĩnh vực như chẩn đoán hình ảnh, tối ưu hóa phác đồ điều trị, hỗ trợ điều trị ung thư, quản lý hồ sơ bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa, dự báo dịch bệnh.
Bước đầu, các ứng dụng này đã mang lại kết quả khả quan, giúp giảm tải thủ tục hành chính, tối ưu vận hành bệnh viện và nâng cao chất lượng điều trị, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thể thay thế con người.
Để ứng dụng AI đúng hướng, Bộ Y tế xác định cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, xác định chiến lược nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI trong y tế, xây dựng nền tảng số và kho dữ liệu lớn, bảo vệ dữ liệu người bệnh và thiết lập hướng dẫn đạo đức, đảm bảo mọi quyết định điều trị cuối cùng có giám sát và xác nhận của bác sỹ.
Lãnh đạo Bộ Y tế nhấn mạnh, hành lang pháp lý phải đi trước một bước. Bộ Y tế sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan, chuyên gia để xây dựng khung pháp lý, quy tắc đạo đức cho thử nghiệm, triển khai và chịu trách nhiệm giải trình của các sản phẩm AI y tế, đồng thời tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo phát triển một cách có kiểm soát và an toàn.